- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Mùi Văn C - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mùi Văn C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2021/HS-ST Ngày 18 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Lương Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Bống.
- Ông Đinh Công Ó.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Khánh Hòa – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: ông Đặng Văn Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2021/TLST – HS, ngày 25 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐXXST – HS, ngày 03 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo: Mùi Văn C (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 4 năm 1989 tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: bản T, xã G, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam. Tôn giáo, đảng phái đoàn thể: không; Con ông Mùi Văn I, sinh năm 1968 và bà Hà Thị K, sinh năm 1964; có vợ là Hà Thị D, sinh năm 1989 và có và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
1. ông Hà Văn N sinh năm 1981 (đã chết). Người đại diện hợp pháp của người bị hại Hà Văn N: bà Hà Thị X, sinh năm 1981 và anh Hà Văn Q (là con trai ông N); trú tại bản X, xã S, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
2. ông Hà Văn B, sinh năm 1964; trú tại bản T, xã G, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
3. ông Hoàng Thiên T, sinh năm 1969; trú tại bản T, xã G, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi liên quan: ông Mùi Văn U, sinh năm 1970; trú tại bản T, xã G, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 14/10/2020 Mùi Văn C đã sử dụng rượu (nồng độ cồn trong máu tại thời điểm tai nạn là 429,8mg/100ml) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 30F 375.28 chở Lường Ngọc A, Hà Văn N Lường Văn D, Hoàng Thiên T, Hà Văn B từ từ bản T, xã G, huyện Phù Yên đến bản X, xã S, huyện Phù Yên, khi đi đến tại Km 08 + 20 đường liên xã S đi S, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, thuộc địa phận bản C, xã S, huyện Phù Yên do trời mưa to, mặt đường trơn, nhiều sương mù và tầm nhìn hạn chế, do không làm chủ được tay lái và tốc độ đã làm xe ô tô lao xuống tà luy âm gây tai nạn. Hậu quả làm Hà Văn N chết trên đường đi cấp cứu, Hà Văn B bị thương tích 11%, Hoàng Thiên T bị thương tích 31%, gây thiệt hại về giá trị chiếc xe ô tô là 284.130.000,đ.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe ô tô BKS 30F 375.28, màu sơn đỏ, nhãn hiệu “Escape”, loại xe Ford, tình trạng xe ô tô bị hư hỏng nặng phần đầu xe, thân xe bên trái và các thiết bị bên trong xe; Các mảnh nhựa màu đỏ, đen và các mảnh kim loại bị vỡ có hình dáng, kích thước khác nhau thu tại hiện trường; 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Mùi Văn C.
Ngày 15/10/2020, vào hồi 08 giờ 00 phút, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Phù Yên tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông với điều kiện về thời tiết, khí hậu, ánh sáng: Ánh sáng tự nhiên, đảm bảo điều kiện khám nghiệm. Tình trạng hiện trường: Bị xáo trộm do thời tiết, người và phương tiện đi lại. Kết quả:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng tại Km 8 +20 đường liên xã S đi S, thuộc địa phận bản C, xã S, mặt đường được dải nhựa tương đối bằng phẳng, rộng 3,35m, lề đường bên phải rộng 0,60m, tiếp giáp là rãnh thoát nước rộng 1,2 x 0,5m, lề đường bên trái rộng trung bình 3,2m, bên ngoài lề đường bên trái là tà luy âm, cách hiện trường 50m về phía hai đầu đường không có biển báo hiệu, mặt đường dốc 2%, đỉnh dốc hướng bản C, xã S, huyện Phù Yên.
Tại hiện trường phát hiện ba vị trí: gồm vị trí số 01: Hàng rào tre bị gãy, đổ; Vị trí số 02: cây dong bị đổ rạp; Vị trí số 03: 01 (Một) xe ô tô BKS 30F 375.28 nhãn hiệu Ford Escape.
Điểm mốc được xác định là tâm mặt phía trên của cọc H có ký hiệu H2/8, nằm trên lề đường bên tay phải đầu đường đi bản Suối Giàng và lấy mép đường bên tay trái theo chiều bản Suối Giàng đi UBND xã S làm chuẩn. Cụi thể từng vị trí như sau:
“Vị trí số 1: Trên mặt lề đường bên tay trái phát hiện hàng rào bằng cây bị gãy đổ trên diện (8,20 x 1,5m), tâm vết cách mép đường bên tay trái 3,40m và cách điểm mốc đã được xác định là 24,30m.
Vị trí số 2: Trên mặt tà luy âm phát hiện nhiều cây dong bị rạp đổ theo chiều từ mặt đường xuống tà luy âm trên diện rộng trung bình (7,50 x 23,10m), khoảng cách gần nhất của vết cách mép đường bên trái là 8,20m và khoảng cách gần nhất của vết cách mép đường bên trái là 8,20m và cách tâm vị trí hàng rào bị gãy đổ ở vị trí số 01 là 5,70m.
Vị trí số 03: Phía dưới tà luy âm phát hiện xe ô tô con BKS 30F 375.28, nhãn hiệu Ford Escape, màu sơn đỏ bị lật ngửa, đầu xe quay xuống dưới tà luy âm, đuôi xe quay hướng lên mặt đường, khoảng cách gần nhất từ tâm đầu trục sau bên phải đến vị trí cây rong đổ tại vị trí số 02 là 37,0m và cách mép đường bên trái là 72,40m.
Ngày 15/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Phù Yên đã ra quyết định trưng cầu giám định số 162/QĐ-CQCSĐT-ĐTTH; Trưng cầu: Trung tâm Pháp y tỉnh Sơn La với nội dung yêu cầu giám định: Xác định nguyên nhân chết của anh Hà Văn N. Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 126/TT, ngày 09/11/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sơn La kết luận: “Nguyên nhân chết: Chấn thương cột sống gãy CII – CIII, đứt tủy cổ do va đập là nguyên nhân gây tử vong.
Ngày 14/10/2020 tại bệnh viện đa khoa huyện Phù Yên đã tiến hành xét nghiệm nồng độ cồn trong máu đối với Mùi Văn C. Kết quả: nồng độ cồn trong máu của Mùi Văn C là 429,8mg/100ml máu.
Ngày 15/10/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên yêu cầu xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Mùi Văn C. Kết quả: Tại thông báo kết quả xét nghiệm ma túy bằng test thử nhanh của Trung tâm y tế huyện Phù Yên, kết quả xét nghiệm: Không sử dụng ma túy.
Ngày 18/11/2020 cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Phù Yên ra quyết định trưng cầu giám định số 182, 183, 184, 185/QĐ-ĐTTH để trưng cầu mức độ tổn hại sức khỏe và cơ chế hình thành dấu vết trên cơ thể của Lương Ngọc A, Hà Văn B, Lường Văn D và Hoàng Thiên T.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 266, ngày 20/11/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận: “Hà Văn B có tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 11%”.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 267, ngày 20/11/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận: “Lường Ngọc A có tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là không xếp hạng phần trăm thương tích”.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 268, ngày 20/11/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận: “Hoàng Thiên T có tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 31%”.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 274, ngày 24/11/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận: “Lường Văn D có tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là không xếp hạng phần trăm thương tích”.
Ngày 27/10/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên đã ra quyết định trưng cầu giám định số 172; Trưng cầu: Giám định viên tư pháp thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh Sơn La với nội dung yêu cầu giám định: “Tình trạng an toàn kỹ thuật phương tiện của xe ô tô BKS 30F 375.28”. Tại kết luận giám định ngày 02/11/2020 của Giám định viên tư pháp theo vụ việc thuộc Sở giao thông vận tải Sơn La kết luận:
“1. Kiểm tra thông tin kỹ thuật thực tế của xe, đối chiếu với hồ sơ cơ sở dữ liệu của Cục Đăng kiểm Việt Nam, hiện tại phương tiện xe ô tô Biển kiểm soát 30F 375.28 còn hạn kiểm định đến hết ngày 18/5/2021.
2. Hệ thống phanh: Cơ cấu phanh đĩa, dẫn động phanh đầy đủ hoạt động bình thường, không có hiện tượng bị chảy dầu. Dẫn động phanh tay cơ khí bị bó kẹt. Hiện tại hệ thống phanh trước, phanh sau hoạt động bình thường, không có hiện tượng bị chảy dầu. Phanh tay dẫn động bị bó kẹt.
3. Hệ thống lái: Vô lăng trái, trục lái, trụ lái còn đẩy đủ, rơ lỏng, lắp đặt không chắc chắn. Cơ cấu lái, thanh đòn dẫn động lái còn đầy đủ, bị xô lệch, rơ lỏng, lắp đặt không chắc chắn.
4. Hệ thống truyền lực: Hộp số tự động hư hỏng, điều khiển cần ra, vào số không hoạt động.
5. Hệ thống treo: Đúng hồ sơ kỹ thuật của phương tiện, cầu sau nguyên vẹn, cầu trước bị xô lệch./.”
Ngày 27/10/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên đã đề nghị Sở giao thông vận tải tỉnh Sơn La kiểm tra về việc tra cứu thông tin Giấy phép lái xe của Mùi Văn C. Tại Công văn số 2806/SGTVT-QLVT,PT&NL, ngày 29/10/2020 của Sở giao thông vận tải tỉnh Sơn La thông báo: Sở Giao thông vận tải tỉnh Sơn La đã cấp Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số giấy phép lái xe: 140123000410, ngày cấp: 23/10/2019, có giá trị đến 23/10/2024 cho ông Mùi Văn C, sinh ngày 01/4/1989.
Ngày 30/11/2020 cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Phù Yên ra quyết định yêu cầu định giá tài sản số 22/YC-ĐTTH để định giá đối với chiếc xe ô tô BKS 30F 375.28, màu sơn đỏ, nhãn hiệu Ford Escape, tình trạng xe ô tô bị hư hỏng nặng phần đầu xe, thân xe bên trái và các thiết bị bên trong xe. Tại Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS, ngày 03/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Phù Yên kết luận: Giá trị thiệt hại của chiếc xe ô tô BKS 30F 375.28, màu sơn đỏ, nhãn hiệu Ford Escape tại thời điểm định giá là 284.130.000,đ (Hai trăm tám mươi tư triệu, một trăm ba mươi ngàn đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Mùi Văn C khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng buổi trưa ngày 14/10/2020 bị cáo đến nhà anh Lường Ngọc A, ở bản T, xã G ngồi chơi rồi được mời ăn cơm, uống rượu tại đó, đến khoảng 15 giờ cùng ngày sau khi ăn cơm xong thì mọi người rủ nhau đi lên nhà bố vợ của Ngọc A là ông Hà Văn N ở bản X, xã S chơi và đồng thời đưa ông N về nhà, bị cáo đã hỏi mượn chiếc xe ô tô BKS 30F 375.28, nhãn hiệu Ford Escape của ông Mùi Văn U, (là chú ruột của bị cáo, trú tại bản T, xã G) để đưa mọi người đi S. Khi đi lên S thì bị cáo là người điều khiển xe, Lường Ngọc A ngồi ghế phụ, Hà Văn B, Hà Văn N Hoàng Thiên T và Lường Văn D ngồi ghế sau. Khi đi đến đoạn đường thuộc bản C, xã S (km 8 + 20 đường liên xã S đi S) thì lúc này trời đang mưa to, nhiều sương mù, đường trơn trượt bị cáo không chú ý phía trước nên điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi và đâm vào hàng rào tre cạnh tà luy âm rồi lao xuống khu nương trông cây dong của người dân rồi lao xuống vực, hậu quả xảy ra làm ông Hà Văn N tử vong trên đường đi cấp cứu, những người còn lại trong xe đều bị thương và cấp cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Phù Yên.
Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo Mùi Văn C và đại diện gia đình người bị hại Hà Văn N đã tự nguyện thỏa thuận và bị cáo C đã bồi thường thiệt hại về tính mạng, tổn thất tinh thần, ma chay cho gia đình ông N số tiền là 86.200.000,đ (Tám mươi sáu triệu hai trăm ngàn đồng). Đại diện gia đình ông N đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hà Văn C.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của người bị hại Hà Văn N là bà Hà Thị X (vợ ông N) và anh Hà Văn Q (con trai ông N) giữ nguyên ý kiến không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét xét xử bị cáo C hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo giáo dục tại địa phương, trở thành người công dân có ích cho xã hội cũng như phòng ngừa chung và chăm lo cuộc sống cho gia đình.
Sau khi tai nạn xảy ra, những người ngồi trong ô tô gồm các ông Lường Ngọc A, Hà Văn B, Lường Văn D và Hoàng Thiên T đều bị thương tích với mức độ khác nhau, qua giám định pháp y về thương tích đã xác định: ông Hoàng Thiên T có tỷ lệ thương tích là 31%, ông Hà Văn B có tỷ lệ thương tích là 11%, các ông Lường Ngọc A và Lường Văn D đều không xếp hạng phần trăm thương tích. Trong quá trình điều tra các ông Lường Ngọc A, Hà Văn B, Lường Văn D và Hoàng Thiên T đều tự nguyện không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường về dân sự.
Tại phiên tòa, người bị hại ông Hoàng Thiên T và Hà Văn B giữ nguyên ý kiến không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự và đều có ý kiến xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo C và có yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo C.
Tại phiên tòa người có quyền lợi liên quan ông Mùi Văn U trình bày: Ngày 14/10/2020 ông có cho bị cáo C mượn chiếc xe ô tô BKS 30F 375.28, nhãn hiệu Ford Escape để bị cáo đưa người quen về bản X, xã S, huyện Phù Yên, khi bị cáo C đến nhà mượn xe ô tô do không tiếp xúc gần nên ông không biết bị cáo đã uống rượu và do biết bị cáo đã có giấy phép lái xe ô tô hạng C và biết bị cáo cũng thường xuyên lái xe an toàn nên ông đã cho bị cáo mượn xe ô tô. Sau khi tai nạn xảy ra đã gây thiệt hại về chiếc xe ô tô của ông là 284.130.000,đ (Hai trăm tám mươi tư triệu, một trăm ba mươi ngàn đồng). Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, do biết hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên ông đã tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về chiếc xe ô tô cho ông.
Đối với vật chứng chiếc xe ô tô BKS 30F 375.28, nhãn hiệu Ford Escape, tình trạng xe ô tô bị hư hỏng nặng phần đầu xe, thân xe bên trái và các thiết bị bên trong xe; Các mảnh nhựa màu đỏ, đen và các mảnh kim loại bị vỡ có hình dáng, kích thước khác nhau, xác định là tài sản hợp pháp của ông Mùi Văn U, trong quá trình điều tra, cơ quan công an huyện Phù Yên đã trả lại cho ông U quản lý, sử dụng.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKS, ngày 23/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La truy tố: Bị cáo Mùi Văn C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Mùi Văn C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Áp dụng điểm b khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51; khoản 1, 2 và 5 điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Mùi Văn C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Phù Yên đã trả lại cho ông Mùi Văn U một xe ô tô BKS 30F 375.28, nhãn hiệu Ford Escape, tình trạng xe ô tô bị hư hỏng nặng phần đầu xe, thân xe bên trái và các thiết bị bên trong xe; Các mảnh nhựa màu đỏ, đen và các mảnh kim loại bị vỡ có hình dáng, kích thước khác nhau.
- Trả lại cho bị cáo Mùi Văn C 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Mùi Văn C.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589, 590 và 591 Bộ luật Dân sự.
- Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận đã bồi thường thiệt hại của bị cáo và gia đình bị hại Hà Văn N số tiền 86.200.000 đồng.
- Chấp nhận việc các ông Lường Ngọc A, Hà Văn B, Lường Văn D và Hoàng Thiên T tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường về sức khỏe và ông Mùi Văn U tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về giá trị chiếc xe ô tô BKS 30F 375.28, nhãn hiệu Ford Escape
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại (bà X, anh Q), người bị hại (ông T, ông B) người có quyền lợi liên quan ông U không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, những người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị xét xử bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Ngày 14/10/2020, bị cáo Mùi Văn C đã có hành vi điều khiển xe ô tô trong tình trạng có sử dụng rượu (nồng độ cồn trong máu) vượt quá mức quy định, điều khiển xe khi điều kiện thời tiết trời mưa, nhiều sương mù, tầm nhìn bị hạn chế, mặt đường trơn, bị cáo không chú ý quan sát và làm chủ tốc độ đã gây ra tai nạn làm ông Hà Văn N tử vong, ông Hoàng Thiên T bị thương tích với tỷ lệ 31%, ông Hà Văn B bị thương tích với tỷ lệ 11%, thiệt hại về tài sản của ông Mùi Văn U là 284.130.000,đ.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 8 điều 8, khoản 1 điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và khoản 11 điều 5 Thông tư số 31/2019/TT – BGTVT, ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội cũng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- Bản tường trình; Lời khai nhận tội của bị cáo; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 126/TT, ngày 09/11/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La; Biên bản kiểm tra nồng độ cồn rượu, bia trong hơi thở; Phiếu trả lời kết quả về xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế huyện Phù Yên; Kết luận giám định ngày 02/11/2020 của Giám định viên tư pháp theo vụ việc thuộc Sở giao thông vận tải Sơn La; Các bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 266, 267, 268, ngày 20/11/2020 và 274, ngày 24/11/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La; Công văn số 2806/SGTVT-QLVT,PT&NL, ngày 29/10/2020 của Sở giao thông vận tải tỉnh Sơn La; Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS, ngày 03/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Phù Yên; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu; Các biên bản tạm giữ, giao trả đồ vật, tài liệu.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các nhân chứng, phù hợp với kết quả điều tra.
Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mùi Văn C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo C điều khiển xe ô tô trong tình trạng có sử dụng rượu (nồng độ cồn trong máu) vượt quá mức quy định, điều khiển xe khi điều kiện thời tiết trời mưa, nhiều sương mù, tầm nhìn bị hạn chế, mặt đường trơn, bị cáo không chú ý quan sát và làm chủ tốc độ đã gây ra tai nạn làm ông Hà Văn N tử vong, ông Hoàng Thiên T bị thương tích với tỷ lệ 31%, ông Hà Văn B bị thương tích với tỷ lệ 11%, thiệt hại về tài sản của ông Mùi Văn U là 284.130.000,đ. Đã vi phạm khoản 8 điều 8, khoản 1 điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và khoản 11 điều 5 Thông tư số 31/2019/TT – BGTVT, ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến đến sức khỏe, tính mạng, tinh thần, tài sản của người khác. Do đó, cần lên mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tích cực bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý nên cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo đang tại ngoại, có nơi cư trú rõ ràng, do đó xét xử bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo cũng như bảo đảm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Ngoài hình phạt chính bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 260 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo không có tài sản có giá trị, thu nhập, công việc không ổn định, tuổi đời còn trẻ, là lao động chính trong gia đình và con còn nhỏ, vợ không có công ăn việc làm ổn định do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Mùi Văn C.
Vật chứng vụ án: Đối với 01 (Một) xe ô tô BKS 30F 375.28, nhãn hiệu Ford Escape, tình trạng xe ô tô bị hư hỏng nặng phần đầu xe, thân xe bên trái và các thiết bị bên trong xe; Các mảnh nhựa màu đỏ, đen và các mảnh kim loại bị vỡ có hình dáng, kích thước khác nhau. Xác định là tài sản hợp pháp của ông Mùi Văn U, do không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, ngày 04/12/2020 cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Phù Yên đã trả lại toàn bộ số tài sản trên cho ông U quản lý, sử dụng, do đó cần chấp nhận.
Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Mùi Văn U, xác định là giấy phép lái xe ô tô hợp lệ của bị cáo C, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên cần trả lại giấy phép lái xe trên cho bị cáo quản lý, sử dụng là phù hợp theo quy định tại khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo và đại diện gia đình ông Hà Văn N đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại của bị cáo cho đại diện gia đình ông N các khoản gồm ma chay tang lễ, tổn thất về tinh thần, thiệt hại về tính mạng số tiền 86.200.000 đồng, đại diện gia đình bị hại ông N đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với ông Hà Văn B và Hoàng Thiên T đã tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe và ông Mùi Văn U tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về chiếc xe ô tô. Xét thấy việc thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và đại diện gia đình ông N cũng như ý kiến của các ông Hoàng Thiên T, Hà Văn B, Mùi Văn U không yêu cầu bị cáo bồi thường là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, không trái đạo đức, không vi phạm pháp luật, căn cứ vào các điều 584, 585, 586, 589, 590 và 591 Bộ luật Dân sự, cần chấp nhận và Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm dân sự.
Về án phí: Do hành vi phạm tội của mình nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51; điều 54; khoản 1, 2 và 5 điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Mùi Văn C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Xử phạt bị cáo Mùi Văn C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18 tháng 3 năm 2021).
Giao bị cáo Mùi Văn C cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã G, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La giám sát và giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: áp dụng khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại ngay tại phiên tòa cho bị cáo Mùi Văn C 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô hạng C có số 140123000410, do Sở Giao thông vận tải Sơn La cấp ngày 23/10/2019 mang tên Mùi Văn C.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Mùi Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự: Bị cáo Mùi Văn C; Người đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 18 tháng 3 năm 2021.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THÂM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Phù Yên (2); - Chi cục THADS Phù Yên; - THAHS; - Công an huyện Phù Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Người đại diện HP của bị hại; - Người bị hại; - Người có QLLQ; - UBND xã G; - Lưu hồ sơ vụ án; | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Lương Anh |