vanban.org

Bản án 36/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh D.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh D được ly hôn với anh Đặng Minh T Về con chung: Giao con chung là cháu Đặng Nguyễn Duyên Â, sinh ngày 20/6/2015 cho chị Nguyễn Thị Thanh D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thanh D và anh Đặng Minh T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh D.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 24-12-2021
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Kim Chung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải, ông Nguyễn Văn Thức.

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Mai – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ: Ông Từ Quốc Quyền – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 12 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 211/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh D, sinh năm 1994; có mặt

Địa chỉ: Số 1064 đường H, tổ dân phố T 3, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk

- Bị đơn: Anh Đặng Minh T, sinh năm 1988; vắng mặt.

Địa chỉ: Số 78 đường A, tổ dân phố 12, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ; địa chỉ: Xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 25-11-2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh D trình bày có nội dung:

Chị Nguyễn Thị Thanh D và anh Đặng Minh T tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 10-12-2013 tại UBND phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình chung sống với nhau, thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc. Sau đó, anh T trở chứng không lo tu chí làm ăn, nhiều lần trộm cắp vi phạm pháp luật. Chị D cùng gia đình nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh T vẫn chứng nào tật ấy. Chị D không thể chung sống với người chồng như vậy được. Cuộc sống hôn nhân không đạt được, vì vậy, chị D yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Minh T. Hiện nay anh T đang chấp hành án tại trại Giam Đ.

Về con chung: Quá trình chung sống anh T, chị D có 01 con chung tên Đặng Nguyễn Duyên Â, sinh ngày 20/6/2015. Nguyện vọng của chị D là được trực tiếp chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung và công nợ: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Đặng Minh T hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ. Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã uỷ thác cho Trại giam Đ thu thập lời trình bày của anh Đặng Minh T. Anh T trình bày năm 2013 anh T kết hôn với chị D. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn. Tuy nhiên, chị D xin ly hôn thì anh T đồng ý ly hôn với chị D, anh T và chị D có 01 con chung tên Đặng Nguyễn Duyên Â, sinh ngày 20/6/2015, anh T có nguyện vọng giao con chung cho mẹ anh T nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và công nợ: Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành giải quyết và xét xử vắng mặt anh T theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về khởi kiện và thụ lý vụ án: Ngày 25-11-2020 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo; Ngày 04-12-2020, Tòa án thông báo nộp tạm ứng án phí, cùng ngày nguyên đơn nộp tạm ứng án phí. Tòa án thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thanh D và anh Đặng Minh T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống chị D xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T không lo tu chí làm ăn, nhiều lần trộm cắp vi phạm pháp luật, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị D yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T, Anh T cũng đồng ý ly hôn với chị D.

Qua xác minh tình trạng mâu thuẫn vợ chồng của anh Đặng Minh T và chị Nguyễn Thị Thuỳ Dung ở địa phương thì được chính quyền địa phương cung cấp: Anh T và chị D trước đây sinh sống tại địa phương. Về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị D chính quyền địa phương không nắm được. Hiện nay anh T đang đi chấp hành án tại trại giam Đ, còn chị D đã về nhà mẹ đẻ sinh sống.

Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị D và anh T đã vi phạm đến quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị D ly hôn anh T là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh T, chị D có 01 con chung, chị D có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho đến tuổi trưởng thành. Hiện nay anh T đang chấp hành án tại Trại giam Đ, anh T có nguyện vọng giao con chung cho mẹ anh T nuôi dưỡng, để đảm bảo việc phát triển tâm sinh lý cũng như quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận nguyện vọng của chị D là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và công nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Bị đơn anh Đặng Minh T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh D được ly hôn với anh Đặng Minh T

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Đặng Nguyễn Duyên Â, sinh ngày 20/6/2015 cho chị Nguyễn Thị Thanh D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Anh Đặng Minh T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thanh D không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đề cập.

4. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2019/0015725 ngày 04-12-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ.

Bị đơn anh Đặng Minh T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ