vanban.org

Bản án 36/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Thu X được ly hôn ông Ngô Thanh T.

Về con chung: Giao cháu Ngô Hoàng Hải Đ; (Giới tính: nam) sinh ngày 04/5/2010 cho bà Lý Thị Thu X trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà Lý Thị Thu X không yêu cầu ông Ngô Thanh T cấp dưỡng nuôi con do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Thị Thu X- Ngô Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Thu X được ly hôn ông Ngô Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2021/HNGĐ-ST
Ngày 09-7-2021
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Uyên;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phước

Bà Trần Thị Thùy Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Hằng - là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền – Kiểm Sát viên.

Trong ngày 09 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2021, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Lý Thị Thu X; Địa chỉ: Đường H, khóm D, phường X, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Ngô Thanh T; Địa chỉ: Đường P, khóm C, phường Z, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 16/3/2021 cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lý Thị Thu X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Thu X và ông Ngô Thanh T chung sống với nhau có Đ ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 17/3/2014. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2015 cho đến nay. Nay bà X nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà Lý Thị Thu X trình bày, trong quá trình chung sống bà và ông T có 01 người con chung tên Ngô Hoàng Hải Đ; (Giới tính: nam) sinh ngày 04/5/2010. Hiện cháu Đ đang sống với bà X. Sau khi ly hôn bà X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngô Hoàng Hải Đ cho đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lý Thị Thu X không yêu cầu ông Ngô Thanh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Lý Thị Thu X tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Lý Thị Thu X tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/6/2021 ông Ngô Thanh T thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Thu X.

Về quan hệ hôn nhân ông T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà X.

Về con chung ông Ngô Thanh T trình bày, trong quá trình chung sống ông và bà X có 01 người con chung tên Ngô Hoàng Hải Đ; (Giới tính: nam) sinh ngày 04/5/2010. Nay ông T đồng ý giao cháu Ngô Hoàng Hải Đ cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi. Ông T không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Ngô Thanh T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của kiểm sát viên:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Lý Thị Thu X được ly hôn với ông Ngô Thanh T; Về con chung giao cháu Ngô Hoàng Hải Đ; (Giới tính: nam) sinh ngày 04/5/2010 cho bà Lý Thị Thu X trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ngô Hoàng Hải Đ đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lý Thị Thu X không yêu cầu ông Ngô Thanh T cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Tòa án không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lý Thị Thu X và ông Ngô Thanh T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Tòa án không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Theo đơn khởi kiện thì bà Lý Thị Thu X yêu cầu ly hôn với ông Ngô Thanh T và yêu cầu được nuôi con. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình, quan hệ pháp luật để giải quyết là tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Ngô Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Thu X và ông Ngô Thanh T chung sống với nhau có Đ ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 17/3/2014, trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, nguyên nhân theo bà X trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Mặc dù Tòa án ra thông báo về phiên hòa giải cho vợ chồng trở về đoàn tụ hai lần nhưng ông T vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tại phiên Tòa hôm nay bà X vẫn cương quyết xin ly hôn với ông Ngô Thanh T. Hội đồng xét xử xét thấy, thực trạng mâu thuẫn giữa bà X và ông T đã đến mức trầm trọng, ông bà không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lý Thị Thu X cho bà được ly hôn với ông Ngô Thanh T.

Về con chung: Bà Lý Thị Thu X và ông Ngô Thanh T trình bày, trong thời gian chung sống, ông bà có 01 người con chung tên Ngô Hoàng Hải Đ; (Giới tính: nam) sinh ngày 04/5/2010. Hiện cháu Đ đang sống với bà X. Sau khi ly hôn bà X và ông T thống nhất giao cháu Ngô Hoàng Hải Đ cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Ngô Hoàng Hải Đ đang do bà Lý Thị Thu X trực tiếp nuôi dưỡng, cuộc sống của cháu đang ổn định, đồng thời tại biên bản lấy lời khai của cháu Ngô Hoàng Hải Đ (Bút lục số 25-26) thì cháu Đ có nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Do đó căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà X giao cháu Ngô Hoàng Hải Đ cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại hồ sơ và tại Tòa bà Lý Thị Thu X trình bày hiện nay bà có việc làm và thu nhập ổn định từ khoảng 7.500.000 đồng đến 9.000.000 đồng/tháng nên bà X không yêu cầu ông Ngô Thanh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy mức thu nhập hiện nay của bà X đảm bảo cuộc sống của hai mẹ con và do bà X không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Ông Ngô Thanh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Ngô Hoàng Hải Đ mà không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lý Thị Thu X và ông Ngô Thanh T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Bà Lý Thị Thu X phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Thu X được ly hôn ông Ngô Thanh T.

2.Về con chung: Giao cháu Ngô Hoàng Hải Đ; (Giới tính: nam) sinh ngày 04/5/2010 cho bà Lý Thị Thu X trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà Lý Thị Thu X không yêu cầu ông Ngô Thanh T cấp dưỡng nuôi con do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ông Ngô Thanh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Ngô Hoàng Hải Đ mà không ai có quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lý Thị Thu X và ông Ngô Thanh T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Bà Lý Thị Thu X phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà X đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007629 ngày 26/3/2021 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Sóc Trăng.

Bà Lý Thị Thu X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ông Ngô Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ