- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản (Vàng) Danh Thị Kim X - Danh H, Thị Cẩm D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Danh Thị Kim X.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2021/DS-ST Ngày: 12-7-2021 “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhập.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.
2. Ông Võ Văn Liềm.
Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Hạt – Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 7 năm 2021, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 46/2021/TLST-DS, ngày 09/3/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2021/QĐXXST-DS, ngày 07 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Danh Thị Kim X, sinh năm 1990.
Địa chỉ: ấp HU, xã ĐH, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Ông Danh S, sinh năm 1955 và bà Sơn Thị S1, sinh năm 1963. (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp HU, xã ĐH, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. (Theo văn bản ủy quyền ngày 08/3/2021).
- Bị đơn: Ông Danh H, sinh năm 1986. (có mặt)
Bà Thị Cẩm D, sinh năm 1985. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp HU, xã ĐH, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/02/2021, bản tự khai của nguyên đơn bà Danh Thị Kim X và quá trình giải quyết vụ án ông Danh S, bà Sơn Thị S1 là người đại diện theo ủy quyền của bà Danh Thị Kim X trình bày:
Trước đây do là chổ quen bi t với nhau nên bà Danh Thị Kim X có cho bà Thị Cẩm D và chồng là ông Danh H vay vàng nhiều lần, cụ thể các lần vay như sau:
- Ngày 21/5/2014 bà D vay 03 chỉ, sau đó thì bà D đ n lấy thêm 02 chỉ nữa tổng cộng là 05 chỉ vàng 24k (loại 9999).
- Ngày 13/6/2014 bà Dung vay 05 chỉ vàng 24k (loại 9999).
- Ngày 28/10/2014 bà Dung vay 05 chỉ vàng 24k (loại 9999).
- Ngày 10/3/2015 bà Dung vay 03 chỉ vàng 24k (loại 9999).
Tổng cộng bà Thị Cẩm D và ông Danh H đã vay của bà Danh Thị Kim X là 18 chỉ vàng 24k loại 9999, đ n ngày 07/4/2015 thì bà D và ông H có trả cho bà X được 04 chỉ, còn lại 14 chỉ đ n nay chưa trả. Bà X đã nhiều lần yêu cầu ông H, bà D trả nhưng ông bà cứ hứa hẹn mà không trả. Ngày 20/02/2021 bà X làm đơn yêu cầu đ n Ban lãnh đạo ấp Hòa Út, xã Định Hòa để hòa giải nhưng không thành. Nay bà X đồng ý giảm bớt cho ông Danh H, bà Thị Cẩm D là 05 (năm) chỉ vàng 24k, còn lại 09 (chín) chỉ vàng 24k loại 9999 yêu cầu ông H, bà D có trách nhiệm trả lại cho bà X, bà X không yêu cầu tính lãi.
i v i yêu c u khởi kiện nêu trên của nguyên đơn, tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 26/3/2021 và tại phiên tòa Bị đơn ông Danh trình bày:
Ông là chồng của bà Thị Cẩm D, ông thừa nhận vào năm 2014 vợ ông bà Thị Cẩm D có hỏi vay vàng của bà Danh Thị Kim X nhiều lần, tổng cộng trước sau là 18 chỉ vàng 24k loại 9999, đ n ngày 07/4/2015 ông và bà D có đ n nhà trả cho bà X được 04 chỉ, còn lại 14 chỉ đ n nay chưa có trả thêm. Nay, ông thống nhất với trình bày của ông Danh S, bà Sơn Thị S1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn về việc nguyên đơn giảm bớt cho vợ chồng ông số vàng còn nợ là 05 chỉ, còn lại 09 (chín) chỉ vàng 24k loại 9999 ông H đồng trả cho nguyên đơn 09 (chín) chỉ vàng 24k loại 9999 nhưng chờ bán tài sản mới có tiền trả lại cho bà X. Ông H trình bày thêm là ông đồng ý giao tài sản cho Chi cục Thi hành án bán để đảm bảo trả nợ cho bà X và các chủ nợ khác, n u sau khi bán tài sản mà chưa trả đủ số nợ cho bà X thì sau này ông sẽ trả dần cho bà X đ n khi dứt nợ.
Đối với bị đơn bà Thị Cẩm D trong quá trình thụ lý giải quy t vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật (có chồng là ông Danh H nhận thay và cam k t sẽ giao lại) nhưng bà D không cung cấp bản tự khai và cũng không đ n Tòa án để làm việc nên Tòa án không thể ghi nhận ý ki n hay bất cứ yêu cầu nào của bà D.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng quy định và thuộc thẩm quyền giải quy t. Từ khi thụ lý đ n khi xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các bước ti n hành tố tụng đúng theo quy định, tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Các bên đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn bà Thị Cẩm D chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý ki n về việc giải quy t vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 463, 466, 468 và Điều 688 Bộ luật dân sự 2015: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Danh Thị Kim X, buộc ông Danh H và bà Thị Cẩm D phải trả cho bà Danh Thị Kim X 09 chỉ vàng 24 vàng loại 9999. Áp dụng khoản 2, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Danh Thị Kim X đối với số vàng 05 chỉ vàng 24k loại 9999.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cũng như qua cuộc xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đ y đủ, toàn diện chứng cứ
XX nhận định như sau:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quy t vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày của bị đơn và căn cứ vào Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản. Trong vụ án này bị đơn ông Danh H, bà Thị Cẩm D có nơi cư trú tại ấp HU, xã ĐH, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quy t của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
[2] Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Bị đơn bà Thị Cẩm D đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn ti n hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Từ tháng 5/2014 đ n tháng 3/2015 bà Danh Thị Kim X có cho bà Thị Cẩm D và chồng ông Danh H vay vàng nhiều lần và các lần vay đều có làm biên nhận; tổng cộng trước sau bà Thị Cẩm D và ông Danh H vay của bà Danh Thị Kim X tổng cộng là 18 chỉ vàng 24k loại 9999, đ n ngày 07/4/2015 thì bà D và ông H có trả cho bà X được 04 chỉ, còn lại 14 chỉ đ n nay chưa trả. Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Danh S và bà Sơn Thị S1 đồng ý giảm bớt cho ông H, bà D 05 chỉ vàng 24k, yêu cầu ông H, bà D trả lại cho bà X 09 (chín) chỉ vàng 24k loại 9999. Khi vay các bên không ấn định thời hạn trả nợ nhưng trong quá trình vay bà D, ông H không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ và bà X đã báo cho bên vay một khoảng thời gian hợp lý để trả số nợ trên nhưng đ n nay bà D, ông H vẫn chưa thanh toán đầy đủ số tiền vay từ đó phát sinh tranh chấp. Xét về nội dung và hình thức vay tài sản như trên giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự nên phát sinh hiệu lực thi hành.
Xét yêu cầu của bà X buộc ông H và bà D phải trả cho bà số vàng là 09 chỉ vàng 24k loại 9999. Quá trình giải quy t vụ án và tại phiên tòa, ông Hảo đều thừa nhận và đồng ý trả cho bà X số vàng còn nợ là 09 (chín) chỉ vàng 24k loại 9999. Tuy nhiên, ông H trình bày hiện tại hoàn cảnh đang gặp khó khăn, nợ nhiều người nên chờ bán tài sản mới có tiền trả cho bà X. Xét thấy, bà X đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bên cho vay theo quy định nhưng bà D, ông H sau khi nhận được tài sản vay thì không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho bên cho vay là vi phạm quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự, do đó yêu cầu của bà X là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật. Bà D, ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên cần buộc D, ông H phải thanh toán trả lại cho bà X 09 (chín) chỉ vàng 24k loại 9999 (Tại thời điểm xét xử giá vàng được tính bằng 5.150.000đ x 9 chỉ = 46.350.000đ).
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Danh H và bà Thị Cẩm D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5% trên số tiền phải thi hành: (9 chỉ x 5.150.000đ) = 46.350.000đ x 5% = 2.317.500đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Danh Thị Kim X.
Buộc ông Danh H và bà Thị Cẩm D có trách nhiệm trả cho bà Danh Thị Kim X 09 (chín) chỉ vàng 24k loại 9999.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu là 05 chỉ vàng 24k.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Danh H, bà Thị Cẩm D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.317.500đ ( ai triệu, ba trăm mười bảy nghìn, năm trăm đồng).
Bà Danh Thị Kim X được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009760 ngày 08/3/2021 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 12/7/2021.
Bị đơn bà Thị Cẩm D có quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm y t theo quy định.
Trường hợp bản án quy t định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a và Điều 7b Luật thi hành án dân sự sữa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; - Viện KSND huyện Gò Quao; - Chi cục THADS huyện Gò Quao; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | Nguyễn Kim Nhập |