- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hải V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN ---------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2020/HSST Ngày: 22/5/2020 |
NHÂN DANH
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Trí
2. Ông Nguyễn Ngọc Tuấn Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Khuê – Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2020/TLST- HS ngày 13 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2020/QĐXXST-HS ngày 08/5/2020 đối với bị cáo:
Đặng Hải V – Tên gọi khác: Hải có; Sinh năm: 1987 tại tỉnh Bình Thuận; ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: khu phố 14, phường Phú Thủy, Tp Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đặng Văn S và bà Võ Thị N; Anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con út trong gia đình; Có vợ tên: Trần Thị Anh Đ – sinh năm 1987 và 1 con tên Đặng Hải N – sinh năm 2012; Tiền án: Ngày 17/6/2013 bị Tòa án nhân dân Tp. Phan Thiết xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 100/2013/HSST, bị cáo chấp hành án xong ngày 15/02/2018 tại trại giam Thủ Đức; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 16/11/2005 bị Tòa án nhân dân Tp. Phan Thiết xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 15 tháng về tội “Chống người thi hành công vụ” theo bản án số 161/2005/HSST; Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần sử dụng ma túy nên vào khoảng 13 giờ ngày 10/4/2019, Đặng Hải V dùng điện thoại hiệu Samsung của mình có gắn sim số 0941197219 và 0829597909 gọi tới số thuê bao (không rõ số thuê bao) của một người tên Út (không rõ nhân thân) ở Tp. Hồ Chí Minh nhờ mua giùm 1.000.000 đồng ma túy, Út đồng ý. Một lúc sau, có một người lái xe ôm (không rõ nhân thân) liên lạc qua điện thoại (không rõ số thuê bao) với V nói hàng đã gửi. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, có một người thanh niên (không rõ nhân thân) liên lạc qua điện thoại (không rõ số thuê bao) với V và nói ra vòng xoay Bắc Phan Thiết để nhận hàng. V liền tới điểm hẹn thì có một người thanh niên đi trên tuyến xe Bắc – Nam (không rõ biển số) đưa cho V một bao thuốc lá hiệu Caraven rồi bỏ đi. V cầm bao thuốc lá vừa nhận rồi đi về phòng trọ của mình, mở bao thuốc lá ra thì phát hiện bên trong có 02 gói nylon không màu, có khóa nhựa kéo một đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 01 gói nylon không màu, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Từ ngày 10/04/2019 đến ngày 12/4/2019, V đã sử dụng một ít số ma túy trên. Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 12/4/2019, V cầm số ma túy còn lại ra trước cửa phòng trọ ngồi thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an TP. Phan Thiết phối hợp Công an phường Xuân An bắt giữ cùng toàn bộ tang vật. Thu giữ các tang vật như sau:
- 01 gói nylon không màu, có khóa nhựa kéo một đầu, kích thước 4 x7,5cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, thu giữ trong tay trái của Vương. (do Vương giao nộp) (ký hiệu M1 khi giám định)
- 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước 1,7 x 2,2 cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, thu giữ trong tay trái của Vương. (do Vương giao nộp) (ký hiệu M1 khi giám định)
- 01 gói nylon không màu, hàn kín kích thước 1,5 x 2cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng, thu giữ trong tay trái của Vương (do Vương giao nộp) (ký hiệu M2 khi giám định)
- 01 điện thoại di động, loại bàn phím bấm, màu xanh đen viền xanh lá cây, mặt trước và mặt sau của điện thoại có in dòng chữ Samsung. Trong điện thoại có gắn 02 Sim số 0941197219 và 0829597909, thu giữ trong tay phải của Vương.
Bản kết luận giám định số: 557/KLGĐ-PC09 ngày 28/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
+ Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 2,2517 gam là Methamphetamine.
+ Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,0898 gam là Ketamine.
Hoàn lại mẫu vật gửi đến giám định:
+ 02 (hai) gói nylon đã cắt lấy mẫu và 1,316 gam Methamphetamine mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 557/1, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
+01 (một) gói nylon đã cắt lấy mẫu, được niêm phong trong phong bì số 557/2, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. (Trong quá trình giám định đã sử dụng hết mẫu)
Hiện các mẫu vật còn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 557/1, 557/2 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 điện thoại di động mặt sau có chữ SAMSUNG bên trong có chứa 02 Sim số 0941197219 và 0829597909. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Phan Thiết để bảo quản chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 42/QĐ/KSĐT/VKS-HS ngày 09/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Đặng Hải V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa hôm nay, Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Đặng Hải V từ 02 đến 03 năm tù.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Kiểm sát viên đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 12/4/2019, Đặng Hải V đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,2517 gam Methamphetamine và 0,0898 gam Ketamine tại khu phố 4, Xuân An, Phan Thiết nhằm mục đích sử dụng thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an Tp. Phan Thiết phối hợp với Công an phường Xuân An phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng qui định của pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo là một người đã trưởng thành, bị cáo nhận thức đầy đủ về hành vi của mình đối với xã hội, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội, bị cáo cũng nhận thức được Methamphetamine là loại ma túy gây nghiện, nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ… chất ma túy trái phép. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội nhưng bị cáo vẫn xem thường pháp luật, đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bất chấp hậu quả.
Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý bằng một mức hình phạt thật nghiêm, không chỉ nhằm trừng trị, mà còn giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng: Tại bản án số 100/2013/HSST ngày 15/02/2018 Đặng Hải V đã bị Tòa án nhân dân Tp. Phan Thiết xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 15/02/2018, chưa được xóa án tích nhưng nay lại phạm tội mới do cố ý, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Quá trình chuẩn bị xét xử vụ án bị cáo có nộp cho Tòa án Giấy khen do Gíam đốc Công an tỉnh Bình Thuận ký ngày 25/8/2008 khen thưởng bị cáo vì đã có thành tích xuất sắc đột xuất trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc”, vì vậy nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét nhân thân của bị cáo xét thấy hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.
Biện pháp tư pháp: Khi bắt quả tang cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động mặt sau có chữ SAMSUNG bên trong có chứa 2 sim số là vật chứng vụ án bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với vật chứng là mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong 02 phong bì niêm phong số 557/1, 557/2 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Thuận là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với đối tượng tên Út và người lái xe ôm do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hải V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Đặng Hải Vương 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
* Biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 02 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên xử:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 1 điện thoại di động mặt sau có chữ SAMSUNG bên trong có chứa 2 sim số 0941197219 và 0829597909 là vật chứng vụ án bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng là số mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong 02 phong bì niêm phong số 557/1, 557/2 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Thuận là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 64 ngày 16/4/2020).
- Về án phí: Căn cứ khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đặng Hải Vương nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo. Quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của bị cáo là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND Tp Phan Thiết; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - TAND tỉnh Bình Thuận; - Công an Tp Phan Thiết; - Người tham gia tố tụng; - UBND địa phương nơi b/c thường trú; - Thi hành án thành phố Phan Thiết; - Lưu hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂN NAM THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN ---------- BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có : Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân Các hội thẩm nhân dân : 1/Ông Nguyễn Bính , 2/ Bà Lưu Thị Thôi , Căn cứ vào các điều 199 và Điều 222 của Bộ luật tố tụng Hình sự ; xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án với vụ án : phường Tào Xuyên, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa , bị truy tố về tội “ Cố ý gây thương tích ” theo quy định tại các điểm a, khoản 01,khoản 03 Điều 104 Bộ luật hình sự. sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo , người bào chữa và những người tham gia tố tụng kháctại phiên tòa ,Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề giải quyết trong vụ án như sau : “Cố ý gây thương tích ” ” theo quy định tại các điểm a khoản 01,khoản 03 Điều 104 Bộ luật hình sự ; Kết quả biểu quyết : 3/3 ; 2/ Về điều luật áp dụng : luật hình sự.Kết quả biểu quyết : 3/3 3/ Về mức hình phạt : giam thi hành án . Kết quả biểu quyết : 3/3. 4/ Về các vấn đề khác : Hình sự , điều 609 Bộ luật Dân sự : Hoàng 22 triệu đồng tiền chi phí điều trị . Hoàng 10 triệu dồng tiền bù đắp tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm hại . tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. và500.000đ án phí sơ thẩm dân sự . quan về những phần có liên quan là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Quyền kháng cáo bản án của người bị hại là 15 ngày tròn kể từ ngày được niêm yết hoặc tống đạt bản án . Kết quả biểu quyết : 3/3 HỘI THẨM NHÂN DÂN TÒA Nguyễn Bính Lưu Thị Thôi | TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ Tọa Phiên Tòa Nguyễn Thị Hồng Hạnh CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -------------- Phan Thiết , ngày 29 tháng 7 năm 2015 ; Vào hồi 10 giờ 00’ ngày 29 tháng 7 năm 2015 tại phòng nghị án , Hội đồng Nguyễn Ngọc Yến – Sinh năm : 1957 – Trú tại, Khu phố Yên Vực 1, Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa , trên cơ 1/ Về tội danh : Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc Yến đủ yếu tố cấu thành tội ,khoản 3 Điều 104 , điểm p , b khoản 01 , khoản 02 D(iều 46 , điều 47 Bộ *Xử phạt : Nguyễn Ngọc Yến 30 tháng tù , thời hạn tù tính từ ngày bắt *Về trách nhiệm bồi thường Dân sự : Áp dụng khoản 01 điều 42 Bộ luật Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Ngọc Yến đã bồi thường cho Ông Lê Ngọc Tuyên buộc Nguyễn Ngọc Yến phải tiếp tục bồi thường cho Lê Ngọc Từ khi bản án có hiệu lực, người được thi hành án có đơn yêu cầu, hàng * Về án phí : Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm Quyền kháng cáo bản án của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN Nguyễn Thị Như Xuân |