vanban.org

Bản án 36/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 26/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố:Bị cáo Lương Ngọc D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Lương Ngọc D 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam, tạm giữ từ 16/10/2019 đến 25/10/2019. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Ngọc Duy tràng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố:Bị cáo Lương Ngọc D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------
Bản án số: 36/2020/HSST
Ngày: 26/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Tú.

Các hội thẩm nhân dân : Bà Nguyễn Thị Hà

Bà Nguyễn Thị Cúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy–Cán bộ Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Bà Giang Thị Ánh Tuyết – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2020/HSST ngày 04 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 2 năm 2020 đối với bị cáo:

Lương Ngọc D - Sinh năm: 2000, HKTT: Thôn Tân Mi, xã Mông S, huyện Yên B, tỉnh Yên Bái ; Trú tại : Số 124/63 Vĩnh T, phường Vĩnh T, quận Hai Bà Tr, Hà Nội; Nghề nghiệp: Sinh viên. Trình độ văn hoá:12/12. Con ông: Lương Văn M,Con bà: Hà Thị H. Tiền án, tiền sự: không. Danh chỉ bản số: 405 lập ngày 02/11/2019 do Công an quận Hai Bà Trưng cung cấp.

Danh chỉ bản số 381 lập ngày 09/ 10 /2019 do Công an quận Hai Bà Trưng cung cấp. Bắt quả tang ngày 16/10/2019, hủy bỏ quyết định tạm giữ ngày 25/10/2019. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h10’ ngày 16/10/2019, tổ công tác Y4-141 CATP Hà Nội phối hợp với Công an phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 259 Minh Khai, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, phát hiện Nguyễn Ngọc T điều khiển xe máy nhãn hiệu Dream chở Lương Ngọc D có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, D tự nguyện giao nộp 01(một) túi nilon bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng chứa viên nén hình tam giác màu xanh. Tại chỗ D khai nhận là ma túy tổng hợp mua về để sử dụng. Tổ công tác đã niêm phong tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở giải quyết.

Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Lương Ngọc D: 01(một) túi xách có hình kẻ caro màu xanh đen và số tiền 250.000đồng (Hai trăm năm mươi ngàn đồng).

Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số ma túy thu giữ của Lương Ngọc D.

Tại kết luận giám định số 6659 ngày 26/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự -

Công an TP Hà Nội kết luận: 01 (một) viên nén hình tam giác màu xanh, có in hình đầu lâu là ma túy tổng hợp MDMA, có khối lượng 0,503 gam.

Tại cơ quan điều tra Lương Ngọc D khai: Khoảng 22h ngày 15/10/2019, D đi bộ đến đầu ngõ 124 Vĩnh Tuy, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội gặp một người đàn ông không quen biết hỏi D: “có mua ma túy sử dụng không”. D đồng ý và mua một viên ma túy tổng hợp với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) được để trong 01 (một) túi nilon. Sau khi mua được ma túy D để gói ma túy trong túi xách có in hình kẻ caro màu xanh – đen rồi đi về nhà. Khoảng 15h ngày 16/10/2019, D thuê Nguyễn Ngọc T chở ra bến xe Mỹ Đình để về quê. Khi D đi đến trước cửa số nhà 259 Minh Khai, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội thì bị cơ quan công an kiểm tra và bắt giữ như trên. Nguyễn Ngọc T không biết D mang theo ma túy.

Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải D xác định địa điểm mua ma túy và người đàn ông đã bán ma túy cho D. Kết quả: D xác định được địa điểm mua ma túy tại khu vực đầu ngõ 124 Vĩnh Tuy, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội nhưng không xác định được đối tượng bán ma túy nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với Nguyễn Ngọc T, quá trình điều tra xác định T không biết và không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lương Ngọc D. Vì vậy Cơ quan CSĐT – Công an quận Hai Bà Trưng không đề cập xử lý.

Đối với tài sản thu giữ của Lương Ngọc D gồm 01 (một) túi xách có hình kẻ caro màu xanh đen, D khai dùng túi xách để cất giấu ma túy, còn số tiền 250.000đ (Hai trăm năm mươi ngàn đồng) là tài sản riêng của D không liên quan đến hành vi tàng trữ ma túy.

Tại Bản cáo trạng số 14/CT/VKS-HS ngày 15 tháng 01 năm 2020 đã truy tố bị cáo Lương Ngọc D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan công an, công nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Lương Ngọc D như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lương Ngọc D với mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản.

Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:

-

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) viên nén hình tam giác màu xanh, có in hình đầu lâu là ma túy tổng hợp MDMA, có khối lượng 0,503 gam.

-

Tịch thu tiêu hủy 01(một) túi xách có in hình kẻ caro màu xanh đen không còn giá trị sử dụng.

-

Trả lại bị cáo 250.000 đồng vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáokhông có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà Nội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15h10’ ngày 16/10/2019 tại trước cửa số nhà 259 Minh Khai, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Lương Ngọc D có hành vi tàng trữ 0,503 gam ma túy tổng hợp MDMA.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lương Ngọc D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

“Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) …Methamphetamine …….có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"

Do đó viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm an ninh trật tự an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện làm huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những kẻ mua bán ma tuý và ma tuý cũng là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.

. Xét nhân thân của bị cáo không có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nhưng thuộc trường hợp nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải. Ông ngoại của bị cáo là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng huân huy chương kháng chiến, do vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 (Năm triệu) đồng đến 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng”. Tuy nhiên, xét bị cáo Lương Ngọc D không có nghề nghiệp, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì giấy đã được niêm phong bên trong có chứa ma túy loại MDMA, khối lượng 0,503 gam, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Lương Ngọc D vì liên quan đến hành vi phạm tội.

-

Tịch thu tiêu hủy 01(một) túi xách có in hình kẻ caro màu xanh đen không còn giá trị sử dụng.

-

Trả lại bị cáo 250.000 đồng vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

-

Đối với Nguyễn Ngọc T, quá trình điều tra xác định T không biết và không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lương Ngọc D. Vì vậy Cơ quan CSĐT – Công an quận Hai Bà Trưng không đề cập xử lý nên không xét.

-

Đối với người mua ma túy và người đã bán ma túy cho D cơ quan Công an đã dẫn giải xác định được địa điểm mua ma túy và bán ma túy nhưng không xác định được đối tượng đã bán và mua ma túy nên không có căn cứ để xác minh, xử lý nên không xét.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:Bị cáo Lương Ngọc D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo: Lương Ngọc D 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam, tạm giữ từ 16/10/2019 đến 25/10/2019.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

3.Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì giấy đã được niêm phong bên trong có chứa ma túy loại MDMA, khối lượng 0,503 gam, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Lương Ngọc D.

-

Tịch thu tiêu hủy 01(một) túi xách có in hình kẻ caro màu xanh đen.

-

Trả lại bị cáo số tiền 250.000 đồng.

Các tang vật trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng - Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 06 tháng 02 năm 2020 (TV: 130/20 ) giữa Công an quận Hai Bà Trưng và Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 21 tháng 01 năm 2020.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lương Ngọc D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ