- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2020/HSST Ngày 13-10-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Vinh
Bà Dương Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hoàng- Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Duy C, sinh ngày 29 tháng 12 năm 1984 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Số 60A Đ3 phường Đ, Quận Ng, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 501 Lô B khu 7 tầng, phường V, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy Ch và bà Vũ Thị L; có vợ là Trương Thị T và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 16/6/2020, chuyển tạm giam từ ngày 18/6/2020; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Lê Văn H; vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Ngọc V; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên khoảng 12 giờ ngày 16/6/2020, Nguyễn Duy C điều khiển xe mô tô BKS: 16M1-4263 đến khu vực đường Nguyễn Tường L, Quận L, Hải Phòng gặp và mua của một phụ nữ (khoảng 30 tuổi không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 gói ma túy với giá 1.600.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, C đi đến khu vực trước cửa nhà số 06 đường Ch, phường Đ 1, quận H, Hải Phòng thì bị phát hiện, bắt quả tang. C bị thu giữ 01 túi nilon màu trắng kích thước 3,5 cm x 3,5 cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, ở ngăn ngoài cùng của túi đeo màu đen nhãn hiệu Jingpin, để ở võng xe mô tô C điều khiển. C khai nhận là ma túy đá.
Tại bản Kết luận giám định số 365/KLGĐ-MT ngày 16/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Duy C gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,99 gam, là loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 29/9/2020, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố Nguyễn Duy C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 21- 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 niêm phong bằng bì thư chất ma túy giám định còn lại, 01 túi đeo màu đen hiệu Jingpin.
- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung bản cáo trạng và khai: Chiếc xe mô tô BKS: 16M1- 4263, bị cáo mượn của người bạn tên Th vào ngày 15/6/2020 tại khu vực đường V, phường L, quận H, Hải Phòng. Bị cáo không rõ địa chỉ của Th. Bị cáo mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Bị cáo ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập vào hồi 12 giờ 50 phút ngày 16/6/2020, phù hợp với nội dung kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Duy C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi cất giấu ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn mua về sử dụng. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 16/6/2020, tại khu vực trước cửa nhà số 06 đường Ch, phường Đ 1, quận H, thành phố Hải Phòng, bị cáo đã có hành vi cất giấu bất hợp pháp 0,99 gam Methamphetamine. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xa hô ̣̃ i , đã trực tiếp xâm pha ̣m đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.
Tội phạm ma túy đang có diễn biễn phức tạp và chiều hướng gia tăng. Ma túy đã gây tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, là nguyên nhân làm mất trật tự, an toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội , gia tăng các loại tội phạm nên hình phạt đối với tội phạm ma túy cần phải nghiêm khắc mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nên cần áp dụng đối với bị cáo một hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có công việc ổn định, sống phụ thuộc vào gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi giám định còn lại, liên quan đến tội phạm, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 01 túi đeo màu đen hiệu Jingpin không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Những vấn đề khác:
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo, không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để điều tra, xử lý là có căn cứ.
Đối với xe mô tô BKS: 16M1- 4263, qua điều tra xác định đăng ký chủ sở hữu mang tên: HTX K/thác D/vụ thủy sản số 1, địa chỉ: Xã L1, huyện Ng, Hải Phòng. Đại diện HTX K/thác D/vụ thủy sản số 1 cho biết chiếc xe trên mua mới và đăng ký và tháng 7/2006. Quá trình sử dụng xe đã hết khấu hao và không còn sử dụng được nên đã bỏ đi. Hiện chiếc xe trên chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, xử phạt: Nguyễn Duy C 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/6/2020.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 niêm phong bằng bì thư có dấu nhiêm phong số 365/2020/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và 01 túi đeo màu đen hiệu Jingpin.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 01/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, Hải Phòng).
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án đựơc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi thành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành dân sự đựơc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Hải An; - VKSND TP. Hải Phòng; - TAND TP. Hải Phòng; - CQCSĐT- Công an quận Hải An; - CQTHAHS- Công an quận Hải An; - Phòng PV06- Công an TP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - Chi cục THA DS quận Hải An; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thủy |