- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quang Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2020/HSST Ngày: 20-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Như Đa.
2. Ông Lương Thành Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lô Văn Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 20/7/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo: Quang Văn N, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1994 tại huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản C, xã D, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 3/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quang Văn T và bà Quang Thị Th; Vợ-Con: Chưa có; Tiền án - Tiền sự: Chưa có; Bị tạm giữ từ ngày 26/3/2020 và tạm giam từ ngày 01/4/2020 cho đến nay; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang. Trợ giúp viên pháp lý - Chi nhánh số 2. Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 20 giờ ngày 26/3/2020, Quang Văn N điều khiển xe máy đi từ nhà đến địa bàn xã Q, huyện Quế Phong để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây thì N gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 2.000.000đ. Sau khi mua được ma túy thì N cầm trên tay trái rồi điều khiển xe đi về nhà. Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, khi N đi về đến địa bàn bản B, xã C, huyện Quỳ Châu thì bị tổ công tác Công an huyện Quỳ Châu kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ 01 gói chất rắn màu trắng và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius, BKS 37X5-6561.
Tại bản Kết luận giám định số 450/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 30/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Quang Văn N gửi tới giám định là ma túy (Heroin) và có khối lượng là 3,2g.
Quá trình điều tra đã làm rõ, chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius, BKS 37X5-6561 là tài sản hợp pháp của bố bị cáo (Ông Quang Văn T). Việc bị cáo sử dụng chiếc xe máy để đi mua ma túy thì ông T không biết. Vì vậy, cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu đã trả lại chiếc xe máy nói trên cho ông T. Ông T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.
Ngoài ra, cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳ Châu không xác định được lai lịch, địa chỉ của người đàn ông bán ma túy cho Quang Văn N nên không có cơ sở để xử lý.
Cáo trạng số 40/CT-VKS-HS ngày 29/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu đã quyết định truy tố bị cáo Quang Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Tịch thu tiêu hủy 3g Heroin và vỏ bao niêm phong vật chứng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo và buộc chịu án phí HSST.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với tội danh và điều luật như viện dẫn của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST đối với bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng và không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào tối ngày 26/3/2020, bị cáo đi đến địa bàn xã Q, huyện Quế Phong gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết một gói Heroin với số tiền 2.000.000đ. Sau khi mua được ma túy thì bị cáo cầm trên tay rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, khi về đến địa bàn bản B, xã C, huyện Quỳ Châu thì bị Công an huyện Quỳ Châu bắt giữ, thu giữ số Heroin có tổng khối lượng 3,2g và 01 chiếc máy.
Thấy rằng lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng và số lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 3,2g. Như vậy, đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Quang Văn N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy nói chung và Heroin nói riêng là chất gây nghiện được Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo là người nghiện ma túy nhưng bị cáo không thật sự có ý thức cai nghiện để từ bỏ ma túy mà còn tìm mua ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Bị cáo có hành vi tàng trữ Heroin có số lượng nhiều. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và lên cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ thái độ biết ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[2.3] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn và không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[2.4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu đã thu giữ của bị cáo 3,2g Heroin. Đã trích 0,2g gửi đi giám định, còn lại 3g Heroin cùng vỏ bao niêm phong vật chứng cần tịch thu tiêu hủy.
[3] Về án phí: Tại phiên tòa hôm nay, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí HSST cho bị cáo với lý do gia đình bị cáo là hộ cận nghèo, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn khó khăn. Tại khoản 1 Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định: “Người đề nghị được miễn,… phải có đơn đề nghị nộp cho Tòa án có thẩm quyền…”. Tuy nhiên, trong vụ án này, bị cáo Quang Văn N không có đơn đề nghị nộp theo quy định. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Quang Văn N 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/3/2020.
- Căn cứ Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 3g Heroin cùng vỏ bao niêm phong vật chứng (Tất cả có đặc điểm như mô tả trong Biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào hồi 16 giờ ngày 29/6/2020 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu)
- Căn cứ vào điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Buộc Quang Văn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
- Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND; Công an; THADS H.Quỳ Châu; - VKSND; Trại tạm giam CA T.Nghệ An; - Phòng KTNV-TAND tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; Người bào chữa; - Lưu HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoài Nam |