- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn V bị truy tố về tội Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2020/HSST Ngày: 26/6/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Quang Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Nam Trà và ông Võ Quang Hòa
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: ông Phan Anh Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2020, tại Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc số 1 tỉnh Nghệ An, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 14/2020/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2020 và theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42 ngày 10/6/2020 đối với bị cáo:
Trƣơng Văn V – tên gọi khác: không; sinh ngày 25/02/1999; Nơi ĐKHKTT: Xóm 13 - xã Nghĩa Hưng – Nghĩa Đàn– Nghệ An; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông không xác định và bà Trương Thị – sinh năm 196; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa có; Chức vụ đảng: không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Trương Văn V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Trương Văn V là đối tượng nghiện ma túy nên vào khoảng 13 giờ 05/12/2019, V điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Novo, loại YAMAHA màu sơn vàng đen BKS 37G1
- 570.96 mà V mượn của ông Âu Văn Ph trú cùng xóm với V để đi tìm mua ma túy về sử dụng. V điều khiển xe máy đi đến khu vực ngã 3 Săng lẻ, xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp thì gặp một người đàn ông giới thiệu tên H, mặc áo khoác màu đen, quần bò màu xanh, khoảng 28 tuổi, cao khoảng 1,65m, sống tại khu vực này có ma túy bán. Gặp người này, V hỏi có ma túy không thì được người này đưa cho 01 gói nilon trong suốt, viền màu xanh dương bên trong có chứa chất ma túy đá, vì là bạn bè nên H không lấy tiền của V. Sau khi lấy được ma túy, V cất gói ma túy trong túi quần phía trước, bên trái rồi đi về nhà tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày khi V đi đến cổng chào xóm Tân Thịnh, xã Nghĩa Hiếu, Nghĩa Đàn thì bị bị công an huyện Nghĩa Đàn phối hợp với Ban công an xã Nghĩa Hiếu kiểm tra. Khi kiểm tra phát hiện tại túi quần phía trước bên trái của V 01 gói nilon trong suốt, viền màu xanh dương, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy nên lực lượng công an đã lập biên bản đưa người và tang vật về trụ sở làm việc. Tại biên bản mở niêm phong tang vật xác định: toàn bộ gói hạt tinh thể màu trắng thu giữ sau khi loại bỏ bao bì của Trương Văn V nghi là ma túy đá có khối lượng 0,4 gam.
Tại kết luận giám định số 1451/KL – PC 09 ngày 09 tháng 12 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An kết luận: mẫu các hạt tinh thể màu trắng thu giữ trong gói của Trương Văn V là Methamphetamine.
Cáo trạng số 16/VKS – HS ngày 25/02/2020 của VKSND huyện Nghĩa Đàn đã truy tố Trương Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý đối với bị cáo như sau: Xử phạt bị cáo Trương Văn V từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định của bị cáo.
Đối với người đàn ông tên H cao khoảng 1m 65 mặc áo khoác màu đen, quần bò màu xanh đặc điểm như mô tả của bị cáo V thì cơ quan chức năng đã xác minh nhưng chưa có kết quả. Lúc nào xác minh được sẽ xử lý sau. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Novo, BKS 37G1 – 570.96 màu vàng đen mà bị cáo V mượn của ông Âu Văn Ph thì khi ông Ph cho V mượn xe thì ông Phiên không biết V mượn xe đi đâu, làm gì nên không liên quan đến việc phạm tội, cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn đã làm thủ tục trả chiếc xe cho Âu Văn Ph, ông Ph cũng không có yêu cầu gì liên quan đến chiếc xe này nữa.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Trương Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, vật chứng đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Từ đó xác định được vào ngày 05/12/2019 khi Trương Văn V đang di chuyển xe máy đến cổng chào xóm Tân Thịnh, xã Nghĩa Hiếu, Nghĩa Đàn thì bị lực lượng công an Nghĩa Đàn kiểm tra, phát hiện tại túi quần phía trước bên trái của V 01 gói hạt tinh thể màu trắng và sau này được kết luận là Methamphetamine, mà V vừa được bạn cho đang đi tìm nơi để sử dụng. Như vậy Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Trương Văn V phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS như cáo trạng quy kết là có căn cứ.
Xét tình hình tội phạm ma túy đang diễn biến phức tạp và chưa có chiều hướng giảm nên cần đưa vụ án ra xét xử kịp thời và nghiêm là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đây là vụ án thuộc loại nghiêm trọng, bị cáo ý thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy gây nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do bản chất ăn chơi, đua đòi không biết làm chủ bản thân đã đẩy bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý Nhà nước đối với chất ma túy.Việc sử dụng ma túy trái phép gây tác hại xấu đến sức khỏe, làm suy thoái đạo đức, làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm.
Xét tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng .
Xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, cậu ruột của bị cáo là liệt sỹ, được Tổ quốc ghi công. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 BLHS.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện, thu nhập thấp nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về tang vật vụ án: Xét thấy 01 gói ma túy thu của bị cáo (số còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định) là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trương Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, 2 điều 51, điều 38 BLHS, xử phạt: bị cáo Trương Văn V 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bắt là ngày 05/12/2019.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư do Công an huyện Nghĩa Đàn ấn hành kích thước 22 x 12 cm phía trước phong bì thư có ghi “vật chứng thu giữ của Trương Văn V ngày 05/12/2019” đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn ngày 25/02/2020.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trương Văn V phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện; - VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã Nghĩa Hưng; - Sở Tư pháp; - TAND tỉnh; - Lưu hồ sơ vụ án | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phan Quang Sơn |