- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Xuân T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễ…
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2020/HSST Ngày: 28/9/2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Nghịch.
2. Ông Nguyễn Ngọc Huỳnh.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Bình, chức vụ: Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2020/HSST, ngày 15/9/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Xuân T, sinh năm 1962 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lái xe; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 10/12; con ông Hồ Xuân H và bà Trần Thị B (đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thanh L (đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 12/12/2002, bị Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm xử phạt 19 năm tù về tội chứa mại dâm và tội môi giới mại dâm, đã được xóa án tích. Ngày 30/12/2018, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã E, huyện K ban hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Hồ Xuân T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2020 đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị Đài T, sinh năm 1989, có mặt; trú tại: phường 3, quận 8, thành phố H.
- Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1991, vắng mặt.
2. Bà Trần Thu T, sinh năm 1966, vắng mặt.
Cùng trú tại: Xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/5/2020, Hồ Xuân T xin được 01 gói ma túy để về sử dụng của 01 người đàn ông tên N (chưa rõ nhân thân lai lịch) ở thành phố B nhưng chưa sử dụng. Ngày 02/6/2020, Công an huyện K mời bị cáo Hồ Xuân T lên trụ sở Công an xã E để làm việc vì trước đây bị cáo có sử dụng ma túy và bị lập hồ sơ áp dụng biện pháp giáp dục tại địa phương, thì bị cáo khai nhận đang cất giấu 01 gói ma túy trong lỗ của viên gạch trên tường tại sân nhà ở xã E, huyện K. Vào lúc 08 giờ 45 phút cùng ngày, bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại gói nylon màu tím, bên trong chứa ma túy cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pắc. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pắc đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo T nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì khác.
Tại Bản kết luận giám định số 507/GĐMT-PC54 ngày 05/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể trong suốt đựng trong một gói nylon màu tím được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2505 gam, loại: Methamphetamin.
Cáo trạng số 37/KSĐT-HS ngày 14 tháng 9 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc truy tố bị cáo Hồ Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Hồ Xuân T khai nhận: Vào ngày 28/5/2020, bị cáo xin được 01 gói ma túy về sử dụng. Đến ngày 02/6/2020, sau khi bị Công an huyện Krông Pắc mời lên trụ sở Công an xã E làm việc thì bị cáo đã tự nguyện giao nộp 01 gói nylon màu tím bên trong có chứa 0,2505gam Methamphetamin được cất trong lỗ gạch ở tường nhà cho Công an huyện Krông Pắc.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa: Phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và khẳng định hành vi của bị cáo Hồ Xuân T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đồng thời phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Xuân T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Các biện pháp tư pháp:
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự.
̀
Đề nghị tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,2307 gam Methamphetamin, đã được niêm phong.
Bị cáo Hồ Xuân T không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về thủ tục tố tụng: Các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Pắc, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố, điều tra thu thập chứng cứ vụ án đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để chứng minh hành vi của bị cáo Hồ Xuân T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng củaViện Kiểm Sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Hêrôin, Côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý chất ma túy của nhà nước mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thực được rằng hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, chất ma túy là dược liệu hướng thần, chất gây nghiện, nếu đưa vào cơ thể sẽ làm nguy hại cho sức khỏe con người. Đồng thời cũng là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV, AIDS và các tội phạm khác. Song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Mặt khác, bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 12/12/2002, bị Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm xử phạt 19 năm tù về tội chứa mại dâm và tội môi giới mại dâm; ngày 30/12/2018, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã E, huyện K ban hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với bị cáo Hồ Xuân T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự thú khai nhận hành vi phạm tội của mình với Cơ quan cảnh sát điều tra, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần được xem xét trong khi áp dụng hình phạt nhằm thể hiện tính nhân đạo và chính sách khoan hồng của pháp luật.
Đối với người đàn ông cho bị cáo T ma túy, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pắc tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau, là phù hợp.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự.
̀
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,2307 gam Methamphetamin, đã được niêm phong (có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/9/2020).
Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, buộc bị cáo Hồ Xuân T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc đề nghị về mức hình phạt và xử lý vật chứng của vụ án là có căn cứ nên chấp nhận toàn bộ quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hồ Xuân T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 02/6/2020.
[2] Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,2307 gam Methamphetamin, đã được niêm phong (có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/9/2020).
[3] Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Xuân T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đăk Lăk;
(Đã ký)
- Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND huyện Krông Pắc;
- T.H.A.H.S CA huyện Krông Pắc;
- CQ CSĐT CA huyện Krông Pắc;
- Chi cục THADS huyện K;
- Đương sự;
- Bị cáo;
- Lưu Hồ sơ.
Phạm Thị Huyền Trang
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đăk Lăk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Pắc; - T.H.A.H.S CA huyện Krông Pắc; - CQ CSĐT CA huyện Krông Pắc; - Chi cục THADS huyện Krông Pắc; - Đương sự; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Huyền Trang |