vanban.org

Bản án 36/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 24/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/01/2020. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điều 47 của BLHS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2020/HSST
Ngày 24 - 7 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Mơ và ông Hoàng Minh Hải.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thúy Nga – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: ông Thái Lê Anh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N (tên gọi khác: B) sinh năm 1991 tại tỉnh Ninh Bình; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967 và bà Tống Thị Kh, sinh năm 1968; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không: nhân thân: ngày 28/7/2017 bị TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 08/11/2018; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2020 đến nay. Có mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Ngọc H – sinh năm 1986. Vắng mặt. Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông. Anh Nguyễn Hoàng L – sinh năm 1996. Vắng mặt. Địa chỉ: TM, TT N, huyện P, tỉnh Đăk Nông.

Người làm chứng:

Anh Mỵ Duy H – sinh năm 1972. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông.

Chị Hoàng Thị Kh – sinh năm 1968. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N là người nghiện ma túy, nên vào khoảng 08 giờ ngày 19/01/2020, Năng đi đến khu vực cầu N thuộc Tp P, tỉnh Đắk Nông, gặp đối tượng lái xe ôm (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua ma túy với số tiền 1.500.000đ, để về sử dụng và bán lấy tiền. Sau đó, N đi về nhà tại thôn M, xã N, huyện P, sử dụng. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Dương Ngọc H, sinh năm 1986, trú tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông, đi đến nhà N hỏi mua ma túy với số tiền 200.000đ, thì N đồng ý và lấy một phần từ gói ma túy mua được ra 01 gói nhỏ bán cho H. Sau đó, H đi ra ngoài sử dụng. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19/01/2020, Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1996, trú tại tổ M, thị trấn N, huyện P, tỉnh Đắk Nông, rủ H mua ma túy để sử dụng nên H tiếp tục gọi điện cho Nguyễn Văn N để hỏi mua ma túy với số tiền 1.000.000đ, thì N đồng ý. Sau đó, H đi cùng L đến nhà của N. Tại đây, L đưa cho N số tiền 1.000.000đ, N cầm tiền và đưa gói ma túy cho L. Sau khi mua được ma túy, L và H đi xuống phòng bếp nhà của N để sử dụng. Lúc này, N nằm trên võng tại phòng khách và không biết việc L, H sử dụng ma túy trong bếp nhà N. Khi L và H đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an huyện Đắk Song bắt quả tang, thu giữ: 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục của Nguyễn Hoàng L; 01 gói ni lông màu trắng có chứa chất bột màu trắng của Nguyễn Văn N; số tiền 1.000.000đ của Nguyễn Văn N. Sau đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn N thu giữ 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng tại hộp giấy màu trắng trên kệ góc bên phải phòng khách và 01 dao lam. Ông Nguyễn Văn T (bố của N) sau đó đã tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Mobistar là điện thoại mà N liên lạc mua bán ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 13/KLMT-PC09 ngày 22/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc màu vàng được niêm phong là ma túy, có khối lượng mẫu là 0,0581 gam, là hêrôin. Hoàn lại sau giám định là 0,0349 gam.

Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói ni lông là ma túy, có khối lượng mẫu là 1,1077 gam, là hêrôin. Hoàn lại sau giám định là 0,8673 gam.

Tại bản cáo trạng số 29/CTr-VKS ngày 29/5/2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 BLHS, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 08 đến 10 năm tù.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: tuyên tịch thu tiêu hủy 0,9022 gam hêrôin đã thu được của L và N; 01 bơm kim tiêm và 01 dao lam mà N sử dụng vào việc dùng ma túy; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000đ là số tiền N có được từ việc bán ma túy.

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Mobistar, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn T. Khi Năng sử dụng điện thoại để mua bán ma túy thì ông T không biết, nên đề nghị trả lại cho ông T là chủ sở hữu hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: do ý thức coi thường pháp luật, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng bị cáo đã mua ma túy về sử dụng và bán cho các đối tượng khác kiếm lời nên khoảng 08 giờ ngày 19/01/2020, Nguyễn Văn N mua ma túy của đối tượng lái xe ôm (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tại Tp P, tỉnh Đắk Nông. Sau đó, N về thôn M, xã N, huyện P, bán 01 lần cho Dương Ngọc H và bán 01 lần cho H và Nguyễn Hoàng L. Khi L và H đang sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ 0,0581 gam hêrôin của L; 1,1077 gam hêrôin của N; số tiền 1.000.000đ.

Tại bản kết luận giám định số 13/KLMT-PC09 ngày 22/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc màu vàng được niêm phong là ma túy, có khối lượng mẫu là 0,0581 gam, là hêrôin. Hoàn lại sau giám định là 0,0349 gam. Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói ni lông là ma túy, có khối lượng mẫu là 1,1077 gam, là hêrôin. Hoàn lại sau giám định là 0,8673 gam. HĐXX xét thấy đã có đủ cơ sở pháp lý kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của BLHS.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định Tội mua bán trái phép chất ma túy:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên

…”

Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm hoạt động quản lý về ma túy. Mặc dù nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy HĐXX xét thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quá trình điều tra bị cáo đã khai ra hành vi mua bán trái phép chất ma túy trước đó nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta.

Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh xác định bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tuyên tịch thu tiêu hủy 0,9022 gam hêrôin đã thu được của L và N; 01 bơm kim tiêm và 01 dao lam mà N sử dụng vào việc dùng ma túy; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000đ là số tiền Năng có được từ việc bán ma túy.

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Mobistar, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn T. Khi N sử dụng điện thoại để mua bán ma túy thì ông T không biết, nên cần trả lại cho ông T là chủ sở hữu hợp pháp.

Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên cần chấp nhận.

Trong vụ án còn có một số vấn đề sau:

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Văn N tại Thành phố P, tỉnh Đắk Nông, cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã thông báo đến công an Tp Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, để điều tra xử lý theo quy định.

Đối với hành vi sử dụng ma túy của Nguyễn Văn N, cơ quan Công an huyện Đắk Song đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy số tiền 750.000đ. Đối với hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy của Dương Ngọc H, Nguyễn Hoàng L, cơ quan Công an huyện Đắk Song đã ra Quyết định xử phạt hành chính mỗi đối tượng số tiền 2.250.000đ.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/01/2020.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điều 47 của BLHS.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,9022 gam hêrôin hoàn lại sau giám định; 01 bơm kim tiêm và 01 dao lam mà Năng sử dụng vào việc dùng ma túy;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000đ là số tiền N có được từ việc bán ma túy.

Trả lại cho ông Nguyễn Văn T 01 chiếc điện thoại di động hiệu Mobistar.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/6/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Song).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 98, khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ