vanban.org

Bản án 36/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 23/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đàm Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đàm Đức L 12(mười hai) tháng tù, nhưng được trừ 03 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành tiếp 11 (mười một) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Đức L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đàm Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và các điểm a; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2020/HS-ST
Ngày: 23-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Quách Thành Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Mạnh Hưng - nghề nghiệp: Giáo viên.

2. Bà Trần Thị Hồng Hạnh - nghề nghiệp: Giáo viên.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2020và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:34/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6năm2020,đối vớibị cáo:

Đàm Đức L, sinh ngày 25/4/2003, tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đàm Nhật M và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/03/2020 đến ngày 25/03/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đàm Đức L: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1973; nơi cư trú: tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình – Là mẹ đẻ của bị cáo Đàm Đức L. (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Đàm Đức L: Bà Ninh Thị Hà – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Bình. (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1973; nơi cư trú: tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. (có mặt).

- Người làm chứng:

+ NLC1; (Vắng mặt)

+ NLC2. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 22/03/2020 tổ công tác Công an phường Bắc Sơn tiến hành tuần tra trên địa bàn phường Bắc Sơn, khi đi đến đường Tạ Uyên, thuộc tổ dân phố 10A, phường Bắc Sơn phát hiện Đàm Đức L đang đi bộ từ một ngõ nhỏ hướng ra đường Tạ Uyên, tay trái người nam thanh niên cầm 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đến yêu cầu kiểm tra hành chính, tại chỗ L đã tự giác giao nộp 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và khai nhận bên trong bao thuốc lá là túi ma túy L mua về sử dụng cho bản thân. Tiến hành mở bao thuốc lá Thăng Long kiểm tra bên trong có 7 điếu thuốc và 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x2,5)cm trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ và niêm phong bao thuốc lá Thăng Long, 7 điếu thuốc cùng túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra cơ quan Công an còn thu giữ của Lương 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng, có số imei 1: 357623085978839/01, imei 2: 357624085978837/01 bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0968198240, 01 điện thoại di động nhãn hiệu FORME đã qua sử dụng, có số imei 1: 355958073358962, số imei 2: 355958073358970, bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0338771760, 01 xe mô tô đang mang BKS 35F4- 2128 và 50.000 đồng.

Lấy chất tinh thể màu trắng thu giữ của Đàm Đức L gửi đi giám định (kí hiệu M).Tại bản kết luận giám định số 94/KLGĐ-PC09-MT ngày 24/03/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:

Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,4086 (không phẩy bốn nghìn không trăm tám mươi sáu) gam là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy thuộc danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số:36/CT-VKS ngày 19 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Đàm Đức L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đàm Đức L và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Đàm Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Đàm Đức L từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù được trừ đi 03 ngày tạm giữ, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng các điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

+ Tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng, bao gồm: 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 94/KLGĐ-PC09-MT, bên trong có 0,2376 (không phẩy hai nghìn ba trăm bẩy mươi sáu) gam chất tinh thể màu trắng, ký hiệu M là ma túy, loại methamphetamine được hoàn lại sau khi gửi mẫu đi giám định và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong gửi đi giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong là 01 vỏ túi nilon màu trắng, kích thước (2x2,5)cm, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng bên trong là 7 điếu thuốc lá Thăng Long, 01 vỏ phong bì đã bị xé rách một đầu dùng để niêm phong vật chứng thu giữ ban đầu của Đàm Đức L, 01 vỏ phong bì đã bị xé rách một đầu dùng niêm phong điện thoại của L.

Tại phiên tòa, bị cáo Đàm Đức L đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình với diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu. Bị cáo cho rằng bị truy tố là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Người bào chữa cho bị cáo Đàm Đức L đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân của bị cáo phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn, áp dụng quy định đối với người chưa thành niên phạm tội để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Nguyễn Thị H cho rằng việc điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội. Đồng thời xác nhận đã được trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng, có số imei 1: 357623085978839/01, imei 2: 357624085978837/01 bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0968198240, đến nay không có yêu cầu, đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo nhận tội và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Người làm chứng có lời khai báo xác định nhìn thấy và chứng kiếncông an kiểm tra đối với một nam thanh niên đi bộ từ trong ngõ hướng ra đường Tạ Uyên, trên tay trái của nam thanh niên cầm một bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 7 điếu thuốc và 01 túi nilon màu trắng trong có chứa chất tinh thể màu trắng, diễn biến sự việc đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 22/03/2020 tại khu vực đường Tạ Uyên, thuộc tổ dân phố 10A, phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, bị cáo Đàm Đức L đã có hành vi cất giữ 0,4086 (không phẩy bốn nghìn không trăm tám mươi sáu) gam là ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi cất giữ chất ma túy để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên của bị cáo là trái phép, do cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội.

Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

Khối lượng ma túy Methamphetamine bị cáo tàng trữ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tạiđiểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu.

Xét tính chất hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép, nhân thân của bị cáo, áp dụng quy định đối với người chưa thành niên phạm tội do bị cáo phạm tội khi 16 tuổi 10 tháng 22 ngày, thấy cần áp dụng mức hình phạt thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đề nghị xử phạt bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội, đủ nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội nên cần chấp nhận.

Bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu FORME đã qua sử dụng, số imei 1: 355958073358962, số imei 2: 355958073358970 bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0338771760, số tiền 50.000 đồng thu giữ của L, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Đàm Đức L, không liên quan đến hành vi phạm tội. Vì vậy cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại cho L là đúng pháp luật.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng, có số imei 1: 357623085978839/01, imei 2: 357624085978837/01 bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0968198240là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị H, bà H không biết bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy. Do đó cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp trả lại điện thoại cho bà H là đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 xe mô tô đang mang biển kiểm soát 35F4- 2128 đã tạm giữ của bị cáo, không có giấy tờ, chưa xác định được nguồn gốc. Do đó cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã tách tài liệu để điều tra, làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Đối với số ma túy được hoàn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành; các vỏ bao gói niêm phong gửi đi giám định, 01 phong bì niêm phong bên trong là 01 vỏ túi nilon màu trắng, kích thước (2x2,5)cm, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng bên trong có 07 điếu thuốc lá Thăng Long, 01 vỏ phong bì đã bị xé rách một đầu dùng để niêm phong vật chứng thu giữ ban đầu của Đàm Đức L, 01 vỏ phong bì đã bị xé rách một đầu dùng niêm phong điện thoại của Lươngđều không còn giá trị nên căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng nêu trên.

Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Đàm Đức L khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực thuộc tổ 10A, phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, do đó không có căn cứ để xử lý.

Bị cáo Đàm Đức L bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểms khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1.Tuyên bố: Bị cáo Đàm Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2.Xử phạt bị cáo Đàm Đức L 12(mười hai) tháng tù, nhưng được trừ 03 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành tiếp 11 (mười một) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

3. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp.

Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 94/KLGĐ-PC09-MT, bên trong là chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2376 (không phẩy hai nghìn ba trăm bẩy mươi sáu) gam là ma túy, loại Methamphetamine và toàn bộ vỏ bao gói trong niêm phong;

+ 01 phong bì niêm phong bên trong là 01 vỏ túi nilon màu trắng, kích thước (2x2,5)cm, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng bên trong là7 điếu thuốc lá Thăng Long, 01 vỏ phong bì đã bị xé rách một đầu dùng để niêm phong vật chứng thu giữ ban đầu của Đàm Đức L;

+ 01 vỏ phong bì đã bị xé rách một đầu dùng niêm phong điện thoại của L.

(Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày20/5/2020, giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp)

4. Về án phí: Bị cáo Đàm Đức L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị cáo,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ