vanban.org

Bản án 36/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 10/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Quang T 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/01/2020) Về các vấn đề khác: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Quang T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƢỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2020/HS-ST
Ngày: 10-6-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƢỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn T Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Tùng

2. Bà Bùi Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2020, tại Hội T Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Đặng Quang T, sinh ngày 09 tháng 12 năm 1994; Sinh trú quán: Xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Quang C (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giữ từ ngày 01/01/2020 đến ngày 10/01/2020 chuyển tạm giam đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; Trú tại: Thôn C, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00, ngày 01/01/2020, Đặng Quang T đang đi chơi ở thị trấn T, huyện V thì nhận được điện thoại từ số thuê bao 0865.356.185 của một người đàn ông (sau khi bị bắt, người đàn ông này tự khai tên là Vũ Văn T, sinh năm 1970, trú tại xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) gọi vào số thuê bao của T là 0363.996.185. Qua điện thoại người đàn ông này nói với T:"T à, để cho anh một túi ma túy đá giá 400.000đ", T hiểu ý T muốn mua của T một túi ma túy đá với giá 400.000đ. Do có sẵn 09 túi ma túy đá mang theo ngườicất giấu ở túi quần bên phải phía trước với mục đích để bán kiếm lời nên T nhận lời đồng ý bán ma túy. T hẹn T đến đoạn đường gần T mầm non L thuộc tổ dân phố Y, thị trấn V, huyện Vĩnh Tường để trao đổi mua bán ma túy. T điều khiển xe mô tônhãn hiệu YAMAHA Jupiter Gravita màu đen đã cũ gắn biển kiểm soát: 12K4-1818 đi đến điểm hẹn. Khi gặp T, T lấy từ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc ra 01 túi ma túy đá ra đưa cho T, T cầm túi ma túy đá T đưa ở tay phải và đang định lấy tiền ra để trả cho T thì đúng lúc này lực lượng Công an huyện Vĩnh Tường ập đến bắt quả tang T có hành vi bán trái phép chất ma túy cho T.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu tại tay phải đối tượng tự khai là Vũ Văn T 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng, đối tượng này khai nhận đó là túi ma túy tổng hợp dạng đá vừa mua được của Đặng Quang T với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng). Tang vật được niêm phong vào một phong bì thư theo đúng thủ tục pháp luật, ký hiệu A1.

- Thu trong túi quần bên trái phía trước đối tượng tự khai là Vũ Văn T đang mặc số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) gồm 02 tờ tiền polime mệnh giá 100.000đ và 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000đ, đối tượng này khai nhận đây là số tiền của mình dùng để mua ma túy của T nhưng chưa kịp đưa tiền cho T thì bị bắt giữ.

- Thu trong túi quần bên phải phía trước đối tượng tự khai là Vũ Văn T đang mặc một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0865.356.185.

- Thu trong túi quần bên phải phía trước Đặng Quang T đang mặc 08 túi nilon màu trắng bên trong đều có chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng, T khai nhận đó đều là ma túy tổng hợp dạng đá của T cất giấu với mục đích để bán kiếm lời. Tang vật được niêm phong vào một phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A2.

- Thu trong túi quần bên trái phía trước Đặng Quang T đang mặc một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0363.996.185.

- Tạm giữ của Đặng Quang T một chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter Gravita màu đen đã cũ gắn BKS: 12K4-181.

Căn cứ hành vi bán trái phép chất ma túy của Đặng Quang T, ngày 02/01/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường T hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Quang T tại thôn C - xã C - huyện V - tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.

Ngày 01/01/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường đã ra Quyết định trưng cầu giám định tang vật thu giữ được trong quá trình bắt quả tang đến phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc để giám định xác định trọng lượng và loại ma túy trong mẫu vật ký hiệu A1, A2.

Ngày 04/01/2020, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc có bản Kết luận giám định số 47/KLGĐ, xác định: Tinh thể dạng đá của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,0478g (Không phảy không bốn bảy tám gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine; Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ; Tinh thể dạng đá của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 1,1940g (Một phảy một chín bốn không gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine; Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: 0,0000gam, A2 = 0,7725gam mẫu và toàn bộ bao gói.

Tại bản Cáo trạng số: 32/CT-VKS-VT ngày 20 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Đặng Quang T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng được thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

.Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát nhân huyện Vĩnh Tường, phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 01/01/2020, tại Tổ dân phố Y, thị trấn V, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, lực lượng Công an huyện Vĩnh Tường bắt quả tang Đặng Quang T có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,0478g với giá 400.000đ cho một người đàn ông tự khai tên khi bị bắt là Vũ Văn T, sinh năm 1970, trú tại xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vật chứng thu giữ gồm: Thu trên người T 01 túi ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,0478g, số tiền 400.000đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0865.356.185; Thu trên người Đặng Quang T 08 túi ma túy Methamphetamine có khối lượng 1,1940g, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0363.996.185; Tạm giữ của T một chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter Gravita màu đen đã cũ gắn BKS:12K4 – 1818.

Hành vi của T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định: “Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm ”.

Như vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.

. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Ma túy là nguyên nhân gây ra một lớp người nghiện trong xã hội gây tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như trong cộng đồng nói chung, làm quần chúng nhân dân bất bình và cả xã hội lên án. Ngoài ra, việc sử dụng ma túy thường xuyên còn có nguy cơ lây nhiễm căn bệnh thế kỷ như HIV-AIDS. Các đối tượng nghiện ma túy từ việc không có tiền sử dụng ma túy dẫn đến việc trộm cắp tài sản, cướp tài sản, có khi còn giết người lấy tài sản nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Do vậy cần xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa tội phạm nói chung và làm gương cho người khác có ý thức chấp hành pháp luật.

. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo T là người có nhận thức bình thường, có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng bản thân, bất chấp quy định của pháp luật đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy mục đích để kiếm lời lấy tiền tiêu sài. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có bà nội và hai bác là người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Như vậy, Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù để bị cáo có thời gian cải tạo thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T làm nghề tự do, thu nhập thấp, không ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy thu được khi bắt quả tang, T khai nhận: Vào khoảng hơn 19 giờ ngày 30/12/2019, T đến khu vực cầu C thuộc thị trấn T với mục đích mua ma túy đem về bán kiếm lời, tại đây T đã hỏi và mua được 09 túi ma túy đá của một người đàn ông không quen biết với giá 1.700.000đ. Quá trình điều tra chưa xác định được người đã bán ma túy cho T là ai, ở đâu, do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường tiếp tục T hành xác minh làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.

Đối với đối tượng tự khai tên là Vũ Văn T - sinh năm 1970, trú tại xã V - huyện V, là người mua ma túy của T ngày 01/01/2020, tại Cơ quan điều tra đối tượng này đã khai nhận rõ hành vi vi phạm của mình. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc, T đã lợi dụng sơ hở bỏ trốn, cơ quan điều tra đã T hành truy tìm nhưng chưa tìm được; đồng thời đã T hành xác minh tại xã V nhưng không xác định được có đối tượng nào có nhân thân như trên. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường tiếp tục T hành xác minh làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định pháp luật là phù hợp.

Đối với số thuê bao 0865.356.185 mà đối tượng tự nhận là Vũ Văn T sử dụng để liên lạc mua ma túy của T, quá trình điều tra xác định người đứng tên chủ thuê bao đó là Ngô Văn H - SN: 1993 ở xã V - huyện V. Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường đã T hành triệu tập làm việc với Hải nhiều lần nhưng chưa làm việc được. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường tiếp tục T hành xác minh làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định pháp luật là phù hợp.

Đối với số thuê bao 0363.996.185 mà Đặng Quang T sử dụng để liên lạc bán ma túy vào ngày 01/01/2020, quá trình điều tra xác định người đứng tên chủ thuê bao đó là Nguyễn Thị Giang T - SN: 1972 ở phòng 206 Chung cư G5 - phường T - quận T - thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, kết quả điều tra, xác minh cho thấy, hiện tại không có người nào là Nguyễn Thị Giang T có hộ khẩu thường trú và trú tại địa chỉ trên. Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường tiếp tục T hành xác minh làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định pháp luật là phù hợp.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 400.000đ thu giữ của đối tượng tự khai là Vũ Văn T, quá trình điều tra xác định là tiền đối tượng này sử dụng để mua ma túy của Đặng Quang T nhưng chưa kịp đưa cho T thì bị bắt, do vậy tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0865.356.185 thu giữ của đối tượng mua ma túy tự khai tên là Vũ Văn T, quá trình điều tra xác định là chiếc điện thoại của đối tượng sử dụng liên lạc với T để mua ma tuý vào ngày 01/01/2020, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0363.996.185 thu giữ của Đặng Quang T, quá trình điều tra xác định là chiếc điện thoại của T sử dụng để liên lạc bán ma tuý vào ngày 01/01/2020, do đó cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter Gravita màu đen đã cũ gắn BKS: 12K4-1818 tạm giữ của T, quá trình điều tra T khai nhận chiếc xe mô tô đó là của mẹ đẻ T - bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1971, trú tại: thôn C, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường đã T hành triệu tập bà Trò nhiều lần nhưng vẫn chưa làm việc được. Tại phiên tòa, bà Trò xác nhận chiếc xe là của bà và bà không biết T mượn xe của bà để thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy nên bà đề nghị được xin lại xe, Hội đồng xét xử đã giải thích và hướng dẫn bà Trò làm đơn xin lại xe mô tô gửi Cơ quan điều tra. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với mẫu vật còn lại sau giám định gồm: A1 = 0,0000gam, A2 = 0,7725gam mẫu cùng toàn bộ bao gói không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo Đặng Quang T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đặng Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Quang T 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/01/2020)

Về các vấn đề khác: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 400.000đồng (Bốn trăm nghìn đồng) thu giữ của đối tượng tự khai là Vũ Văn T.

Tịch thu bán phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0865.356.185 thu giữ của đối tượng Vũ Văn T và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0363.996.185 thu giữ của Đặng Quang T.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn trả lại sau giám định, gồm A1 = 0,0000gam, A2 = 0,7725gam mẫu và toàn bộ bao gói.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).

Bị cáo Đặng Quang T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án.

Cỡ chữ