- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH ––––––––––––– Bản án số: 36/2020/ HS-ST Ngày: 29 - 9 -2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Xuân Lợi và ông Nguyễn Xuân Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thùy Linh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch tham gia phiên tòa: Ông Đàm Xuân Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh ngày: 06/02/1982 tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nghề nghiệp: Không; giới tính: nam; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H; có vợ: Trịnh Thị H và 03 con, lớn nhất: 19 tuổi, nhỏ nhất 15 tuổi; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2020 đến ngày 23/6/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người làm chứng: Chị Trịnh Thị H, sinh năm 1983. Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt
Chị Phan Thị N, sinh năm 1986. Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/4/2020, Công an huyện Quảng Trạch đã bắt quả tang Nguyễn Văn C1 về hành vi tàng trữ 06 viên nén màu hồng dạng thuốc tân dược, nghi là ma túy. Sau khi có đủ căn cứ để xác định nhà ở của đối tượng Nguyễn Văn C là anh ruột của đối tượng Nguyễn Văn C1 có dấu vết của tội phạm. Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Trạch đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn C, phát hiện và thu giữ tại vị trí trong vườn nhà cách tường phía nam của nhà bếp 30 cm, cách mép vườn phía đông 1,5 mét có 01 túi nilong màu xanh, bên trong có 01 túi nilong màu đen có chứa 02 viên nén màu hồng dạng thuốc tân dược nghi là ma túy và 01 phong bì thư bên trong có chứa chất bột màu hồng nghi là ma túy tại vị trí trên nền nhà bên trong ô tủ bếp phía đông cách thành ô tủ bếp phía đông 40 centimet, cách thành ô tủ bếp phía nam 25 centimet. Nguyễn Văn C khai nhận 02 viên nén màu hồng dạng thuốc tân dược và 01 phong bì thư bên trong có chứa chất bột màu hồng là ma túy loại Hồng phiến, C mua về cất giấu để sử dụng.
Quá trình điều tra C khai nhận: Vào khoảng cuối tháng 3 năm 2020, thông qua mối quan hệ với các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn, Nguyễn Văn C xin được số điện thoại của một đối tượng bán ma túy nhưng không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Sau đó, C có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã liên hệ mua ma túy loại Hồng phiến 02 lần với số lượng khoảng 05 viên của một người đàn ông không rõ tên, tuổi ở khu vực vùng Ròon với tổng số tiền 02 lần mua là 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C đem về cất giấu để sử dụng.
Ngày 02/4/2020, Cơ quan CSĐT C an huyện Quảng Trạch đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 46/CSĐT trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh Quảng Bình, yêu cầu giám định 02 viên nén màu hồng dạng thuốc tân dược nghi, được niêm phong trong phong bì thư, có biên bản niêm phong kèm theo.
Tại Bản kết luận giám định số 466/GĐ-PC09 ngày 08/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự C an tỉnh Quảng Bình đã kết luận:
- Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,191g.
- Mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,023g.
Vật chứng vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và xử lý:
- Thu giữ và trả lại cho Nguyễn Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C1, màu xanh, số imei: 860466040128953, bên ngoài có ốp lưng màu đen, máy cũ đã qua sử dụng.
- Thu giữ 01 phong bì thư số 466/GĐ-PC09 do Phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh Quảng Bình niêm phong hồi 11 giờ 00 phút ngày 08/4/2020, mẫu ký hiệu A1 và A2, bên trong có chứa chất ma túy;
- Thu giữ 01 chai nhựa có kích thước 10 cm x4 cm, phía trên có nắp nhựa màu vàng, ở nắp chai có gắn thêm 01 ống kích thước 15 cm x 0,3 cm bên trong được luồn một đoạn nhựa màu hồng trắng bên trong là ống tre.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn C là để sử dụng cho nhu cầu cá nhân.
Bản Cáo trạng số 30/CT-VKSQT ngày 30/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 12 - 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24-30 tháng.Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư số 466/GĐ-PC09 do Phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh Quảng Bình niêm phong ngày 08/4/2020, bên trong có mẫu gửi giám định; 01 chai nhựa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C an huyện Quảng Trạch, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về cấu thành tội phạm: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình, Nguyễn Văn C đã có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,214 gam tại nhà ở của mình với mục đích để sử dụng và vào ngày 01/4/2020 đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra C an huyện Quảng Trạch phát hiện và bắt quả tang. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ được cùng với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án. Chất Methamphetamine là một trong những chất ma túy rất độc hại do Nhà nước trực tiếp, quản lý, mọi hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển hay tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên để thỏa mãn nhu cầu bản thân bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cùng các tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích, chất gây nghiện mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội nói chung và gây sự bức xúc đối với nhân dân trên địa bàn nói riêng. Bị cáo là người đã có gia đình đủ khả năng để nhận thức được sự nguy hiểm và tác hại của các vấn đề về tệ nạn ma túy. Hơn nữa, hiện nay nhà nước cũng như các ngành, các cấp đã không ngừng tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng về tác hại to lớn của loại tệ nạn này đối với xã hội. Lẽ ra bị cáo phải nhận thức, hiểu rõ để phòng tránh, đồng thời tuyên truyền cho mọi người về tác hại của ma túy nhưng do thiếu bản lĩnh, thiếu ý chí rèn luyện nên đã dẫn đến phạm tội.Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn và tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có quá trình nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo đã làm được việc tốt, được ví và tiền đã trả lại cho anh Nguyễn Văn L có xác nhận của Công an xã Q; mẹ của bị cáo là bà Trần Thị H là người có thành tích phục vụ trong quân đội nhân dân Việt Nam được Hội đồng Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến vẻ vang. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có C việc ổn định, có đủ điều kiện được rèn luyện, cải tạo tại địa phương nên chưa cần thiết buộc phải đi chấp hành hình phạt tù, cách ly ra khỏi xã hội mà áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, xét xử cho bị cáo được hưởng án treo, giao về chính quyền địa phương phối hợp cùng gia đình theo dõi, giám sát cũng đủ tính răn đe, giáo dục.
Đối với đối tượng bán ma túy, Nguyễn Văn C khai nhận đã mua ma túy của người đàn ông ở khu vực vùng Ròon nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, khi giao dịch mua bán C không nhìn rõ mặt của người đó, sau khi mua được ma túy thì C đã xóa số điện thoại liên lạc nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C1, màu xanh, số imei: 860466040128953, bên ngoài có ốp lưng màu đen đã qua sử dụng Cơ quan Cảnh sát điều tra C an huyện Quảng Trạch đã trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 phong bì thư số 466/GĐ-PC09, bên trong có chứa chất ma túy là vật cấm lưu hành nên áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chai nhựa có kích thước 10 cm x 04 cm là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy;
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/9/2020).
Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư số 466/GĐ-PC09, bên trong có chứa chất ma túy và 01 chai nhựa.
Các vật chứng nói trên có đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra C an huyện Quảng Trạch với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch ngày 06/7/2020.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào C quỹ Nhà nước.
Án xử sơ thẩm C khai, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/9/2020).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - CA huyện Quảng Trạch; - VKSND huyện Quảng Trạch; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - THADS huyện Quảng Trạch; - Bị cáo; người TGTT; - Lưu hồ sơ. | THẨM H N – HỦ TỌA HI N T A (Đã ký) Nguyễn Thị Lan hƣơng |