vanban.org

Bản án 36/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 21/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn N: 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/4/2020 đến ngày 06/5/2020. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2020/HS-ST
Ngày 21 tháng 7 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lò Văn Chiên;

2. Ông Lê Văn Bắc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2020/TLST-HS, ngày 29 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2020/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn N, tên gọi khác: Không, sinh năm 1994, tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn B (đã chết) và bà Thào Thị H, sinh năm 1973; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/4/2020 đến ngày 06/5/2020, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Anh Đèo Văn T, sinh năm 1993, địa chỉ: Bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 27/4/2020, Lò Văn N đi bộ một mình từ nhà đến bản Hợp I, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tìm mua Heroine để sử dụng. Đi đến bản Hợp I, N gặp 01 người đàn ông tên là H, không rõ lai lịch cụ thể và đưa cho H số tiền 100.000 đồng nhờ H đi mua hộ Heroine để sử dụng. Khoảng 05 phút sau, H đi mua về và đưa cho N 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh ni lon màu xanh buộc thắt lại rồi H đi đâu không ai biết. H không nói cho N biết H mua được Heroine của ai. Nhận được gói Heroine, N lấy tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng có sẵn trong túi gói lại rồi cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc và đi bộ về nhà. Trên đường về, N gặp Đèo Văn T đang điều khiển xe máy đi cùng chiều nên N xin đi nhờ xe máy của T để về nhà. Khi được T cho đi nhờ xe, N không nói cho T biết việc N đang cất giấu Heroine trong người. Khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày 27/4/2020, tại đoạn đường thuộc bản Hợp I, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, khi tổ công tác Đồn Biên phòng Sin Suối Hồ - Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu đang làm nhiệm vụ đã kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Lò Văn N đang tàng trữ trong túi quần đang mặc 01 gói chất bột khô màu trắng, được gói bằng một lớp ni lon màu xanh và được gói ngoài bằng một tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng. Lò Văn N khai nhận chất bột khô màu trắng đó là Heroine do Nguyễn mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Qua các kết quả trưng cầu giám định đã xác định được số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn N là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,19 gam.

Tại bản Cáo trạng số: 35/CT-VKS, ngày 29 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn N từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh, dùng để gói số Heroine trong vụ án cùng toàn bộ vỏ niêm phong cũ. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.000 đồng thu giữ của bị cáo. Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội mà bị cáo Lò Văn N đã thực hiện:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản mở niêm phong vật chứng; kết luận giám định; lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 27/4/2020, tại đoạn đường thuộc bản Hợp I, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Đồn Biên phòng Sin Suối Hồ - Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu đang làm nhiệm vụ đã phát hiện và bắt quả tang Lò Văn N tàng trữ trong túi quần đang mặc 01 gói chất bột khô màu trắng, được gói bằng một lớp ni lon màu xanh và được gói ngoài bằng một tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng. Lò Văn N khai nhận chất bột khô màu trắng đó là Heroine do Nguyễn mua về để sử dụng cho bản thân. Qua các kết quả trưng cầu giám định đã xác định được số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn N là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,19 gam.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ Heroine là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai số Heroine bị thu giữ là bị cáo nhờ một người tên là H mua hộ. Bị cáo không biết rõ lai lịch cụ thể của H và cũng không biết H đã mua Heroine của ai nên không có cơ sở để điều tra xử lý đối với người có tên là H và người đã bán Heroine cho bị cáo.

Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo không biết chữ, hiểu biết xã hội và nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số Heroine thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định không hoàn lại. 01 mảnh ni lon màu xanh do bị cáo dùng để gói Heroien in và vỏ niêm phong cũ là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng thu giữ của bị cáo do bị cáo dùng để gói Heroine nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên bố:

1. Bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn N: 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.

Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/4/2020 đến ngày 06/5/2020. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh, dùng để gói số Heroine trong vụ án cùng toàn bộ vỏ niêm phong cũ. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng thu giữ của bị cáo.

3. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ