- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hồ Thúy H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| T A ÁN NH N D N THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH T ỀN G ANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2020/HNGĐ-ST; Ngày: 28-5-2020. Vv tranh chấp: Xin ly hôn, tranh chấp con chung và cấp dưỡng nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC C NG H A X H CH NGH A V T NAM
T A ÁN NH N D N THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH T ỀN G ANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Kiệt.
2. Ông Nguyễn Thanh Sang.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho;
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Bà Lê Phƣơng Hồng Liên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 822/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2019 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2020; Thông báo mở lại phiên tòa số 02/TB-TA ngày 17 tháng 4 năm 2020 và Quyết hoãn phiên tòa số 16A/2020/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 nmaw 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Hồ Thúy H, sinh năm 1975;
Trú tại: số 31/6 H, phường 8, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Tạm trú: ấp P, xã L, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Đinh Phi L, sinh năm 1975;
Trú tại: số 31/6 H, phường 8, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
(Chị H có mặt, anh L vắng mặt)
N DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai ngày 12 tháng 02 năm 2020 và các lời trình bày tại tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Hồ Thúy H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Phi L tự nguyện cưới nhau vào năm 2000 và có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới, chị và anh L sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống không khắc phục được, vợ chồng thường lời qua tiếng lại. Anh L hay ghen tuông và có những lời lẽ xúc phạm đến chị. Anh L nói xấu chị và cho rằng chị có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Chị và anh L đã sống riêng gần 01 năm. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh L.
Về con chung: Chị và anh L có 02 con chung gồm Đinh Phi P sinh ngày 25/11/2001 và Đinh Phi Nguyên Q sinh ngày 23/9/2006. Hiện cháu Phụng đã trưởng thành chị không yêu cầu Tòa giải quyết. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q. Chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Bị đơn anh Đinh Phi L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn. Lý do anh không đồng ý ly hôn là vì con cái. Nguyên nhân mâu thuân là do anh nghi ngờ chị H có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Từ đó, vợ chồng thường xuyên lời qua tiếng lại.
Về con chung chung: Anh thống nhất anh và chị H có 02 con chung gồm: Đinh Phi P sinh ngày 25/11/2001 và Đinh Phi Nguyên Q sinh ngày 23/9/2006. Cháu P đã trưởng thành anh không yêu cầu Tòa giải quyết. Nếu Tòa án giải quyết cho anh và chị H ly hôn, anh yêu cầu được nuôi cháu P. Anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về nội dung giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát cho rằng, chị H không còn tình cảm với anh L, hiện cả hai không còn chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được. Về phía anh L không đồng ý ly hôn nhưng vắng mặt không có lý do nên xem như không có thiện chí muốn hàn gắn. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H. Về con chung: Chị H yêu cầu được nuôi con chung tên Đinh Phi Nguyên Q sinh ngày 23/9/2006 và cháu Q có nguyện vọng muốn được sống với chị H. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị H về con chung. Về tài sản chung và nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH C A T A ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị H và anh L tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường 8, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 43/HT ngày 09/7/2001 là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp được xem xét giải quyết theo Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Đối với bị đơn anh Đinh Phi L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh L.
[3] Đối với yêu cầu khởi kiện của chị H, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H xin ly hôn với anh L vì cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L hay ghen tuông vô cớ, anh L nghi ngờ chị H có quan hệ tình cảm với người khác. Anh L thường xuyên có những lời nói xúc phạm đến chị H. Từ đó, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh L rạn nứt. Nay xét thấy vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên chị H cương quyết xin ly hôn với anh L. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh L trình bày: Anh không muốn lý hôn là vì con chung. Anh L cũng không đưa ra giải pháp để hàn gắn tình cảm với chị H. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh L nhiều lần nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do. Qua đó, Hội đồng xét xử nhận thấy anh L không có thiện chí muốn hàn gắn với chị H. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh L là có thật nhưng anh chị không khắc phục được để kéo dài làm ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng nên không còn khả năng đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Chị H trình bày, chị và anh L có hai con chung gồm: Đinh Phi P sinh ngày 25/11/2001 và Đinh Phi Nguyên Q sinh ngày 23/6/2006. Cháu Q đã trưởng thành, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay, cháu P đang sống với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi cháu P và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu của chị H là có cơ sở bởi vì phù hợp với nguyện vọng của cháu Q mong muốn được sống với chị H và nhằm giúp cho cháu Q ổn định tâm lý và cuộc sống. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H về việc giao cháu Q cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016, chị H phải chịu án phí án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
Căn cứ khoản Điều 28, Điều 35, Điều 147 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hồ Thúy H.
Chị Nguyễn Hồ Thúy H được ly hôn với anh Đinh Phi L.
Về con chung: Giao con chung tên Đinh Phi Nguyên Q sinh ngày 23/6/2006cho chị Nguyễn Hồ Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đinh Phi L không cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Nguyễn Hồ Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai số 0001081 ngày 12/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên chị H đã nộp xong án phí.
Đương sự có mặt tại phiên tòa quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. H ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa * Nơi nhận:
- TAND tỉnh TG ;
- VKSND Tp Mỹ Tho;
- Chi cục THADS Tp. Mỹ Tho;
- UBND phường 3, Tp Mỹ Tho;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
MA THỊ MỸ TRANG
TM. H ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CH TỌA PH ÊN TOÀ
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh; - VKSND huyện Chợ Gạo; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - THADS huyện Chợ Gạo; - Các đương sự. | Võ Thị Kim Loan |