vanban.org

Bản án 36/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị HI được ly hôn anh Trương Công H.

Về án phí: Chị Phan Thị HI pH chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NL, theo biên lai số AA/2019/0011832 ngày 26/6/2020. Chị HI đã nộp đủ tiền án phí. Án xử công khai sơ thẩm, có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị HI được ly hôn anh Trương Công H.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 9 - 2020
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Ngọc Biên

Ông Bùi Trung Thành

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Không.

Ngày 25 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 137/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2020 về Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên toà số 38/2020/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị HI; sinh năm: 1996; HKTT: Thôn A (nay là thôn C), xã L, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; Chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã D, huyện HK, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị đơn: Anh Trương Công H; sinh năm: 1992; HKTT: Thôn A (nay là thôn C), xã L, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; Chỗ ở hiện nay: Thôn Q (nay là thôn Ư), xã L, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá.

Tại phiên toà có mặt anh H, vắng mặt chị HI. Chị HI đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 26/6/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phan Thị HI trình bày: Chị và anh Trương Công H kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 21/02/2017 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã L, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Anh H thường xuyên uống rượu, không chăm lo cho gia đình. Vợ chồng chị đã sống ly thân 02 năm nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con cái: Vợ chồng không có con chung. Chị HI không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản: Chị HI không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà, bị đơn là anh Trương Công H trình bày: Về ngày kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như nguyên đơn trình bày. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận, không phát sinh mâu thuẫn gì lớn. Do kinh tế khó khăn, mỗi người làm mỗi nơi, anh đi làm ở Bắc Ninh còn chị HI đi làm ở Hà Nội, chị HI không muốn anh đi làm ăn xa như thế nên vợ chồng anh đã sống ly thân 02 năm nay, không ai quan tâm tới ai. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn với chị HI.

Về con cái: Vợ chồng không có con chung. Anh H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản: Anh H không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng:

Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Trương Công H không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh H theo quy định tại khoản 3 điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS).

Anh H đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh H đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.

Chị Phan Thị HI đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt chị HI.

Về hôn nhân: Chị Phan Thị HI và anh Trương Công H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 21/02/2017 tại UBND xã L, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân 02 năm nay, không ai quan tâm tới ai. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh H lên làm việc để anh H được bày tỏ quan điểm, ý kiến và nguyện vọng của mình nhưng anh H đều không có mặt, thể hiện anh H không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị HI và anh H đều có nguyện vọng muốn được ly hôn. Điều đó chứng tỏ chị HI, anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nghĩ nên căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị HI được ly hôn anh H.

Về con cái: Chị HI và anh H không có con chung. Chị HI, anh H không yêu cầu nên miễn xét.

Về tài sản: Chị HI, anh H không yêu cầu nên miễn xét.

Về án phí: Chị HI pH chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; 56; 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; 227; 228; 271; 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị HI được ly hôn anh Trương Công H.

2. Về án phí: Chị Phan Thị HI pH chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NL, theo biên lai số AA/2019/0011832 ngày 26/6/2020. Chị HI đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt anh H, vắng mặt chị HI. Anh H có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị HI có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ