vanban.org

Bản án 36/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các Điều 53, 56, 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1- Về quan hệ hôn nhân xử: Anh Hoàng Văn C được ly hôn chị Triệu Thị Đ 2- Về con chung xử: Giao cháu Hoàng Nông Thu H, sinh ngày 12-12-2017 cho anh Hoàng Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chị Triệu Thị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Hoàng Văn C xin ly hôn chị Triệu Thị Đ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 53, 56, 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử anh C; Điều 81 luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 82 luật hôn nhân và gia đình xử
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ơ
Bản án số: 36/2020/HNGĐ- ST
Ngày 15-7-2020
V/v ly hôn và nuôi con chung
sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH Y

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Trương Xuân Vũ

- Bà Bùi Bích Thủy

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Linh- Thư ký Toà án nhân dân huyện L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: Bà Mạc Minh Song- Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 95/2020/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 19-6-2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30-6-2020; thông báo mở lại phiên tòa số 15 ngày 06 tháng 7 năm 2020 giữa;

Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1993

Địa chỉ: Thôn 1, xã Đ, huyện L, tỉnh Y- Có mặt

Bị đơn: Chị Triệu Thị Đ, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Thôn 1, xã Đ, huyện L, tỉnh Y - Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 20 tháng 5 năm 2020 nguyên đơn anh Hoàng Văn C trình bày:. Anh C và chị Triệu Thị Đ kết hôn với nhau ngày 26-02-2016, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, Huyện L, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5-2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân tính tình không hợp, hay bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Nay anh Đ xác định tình cảm không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Đ.

Về con chung: Anh C và chị Đ có một con chung là Hoàng Nông Thu H, sinh ngày 12-12-2017. Anh C đề nghị để chị Đ trực tiếp nuôi cháu H, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn chị Triệu Thị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành giải quyết vụ án, nhưng chị Đ vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tại phiên tòa hôm nay phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật Thẩm phán, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đúng thành phần thực hiện nguyên tắc xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. Nguyên đơn đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt của bị đơn.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 53, 56, 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 xử: Anh Hoàng Văn C được ly hôn chị Triệu Thị Đ; giao cháu Hoàng Nông Thu H cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con, anh C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án nhân dân huyện L là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án đã tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt của bị đơn.

{2} Về tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ án.

{3} Về tình cảm: Anh Hoàng Văn C và chị Triệu Thị Đ kết hôn với nhau ngày 26-02-2016, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, Huyện L, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu. Đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối tháng 5-2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, hay bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Nay anh C xác định tình cảm không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Đ. Về phía chị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết vụ án nhưng đều vắng mặt không lý do. Mặc dù chị Đ biết việc anh C xin ly hôn nhưng chị Đ không có ý kiến gì. Tại biên bản xác minh ngày 10-6-2020 tại thôn 1, xã Đ, huyện L, tỉnh Y nơi anh C và chị Đ cư trú, sinh sống cũng xác nhận: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh C và chị Đ là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hay xích mích cãi chửi nhau. Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn giữa anh C và chị Đ là trầm trọng. đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu xin ly hôn của anh C là có căn cứ, được chấp nhận. Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử anh C được ly hôn chị Đ..

{4} Về con chung: Anh C và chị Đ có một con chung là Hoàng Nông Thu H, sinh ngày 12-12-2017. Tại phiên tòa anh C yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu H, không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu H ở cùng anh C từ nhỏ, hiện nay đang ở cùng anh C và gia đình bố mẹ anh C. Để đảm bảo ổn định tâm lý và sự phát triển bình thường của cháu H, nên để anh C trực tiếp nuôi cháu H là có căn cứ, phù hợp pháp luật, phù hợp với thực tế. Áp dụng các Điều 81, 82 và 83 luật hôn nhân và gia đình xử: Giao cháu Hoàng Nông Thu H cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

{5} Về tài sản chung và nợ chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét

{6} Về án phí: Anh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật

{7} Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các Điều 53, 56, 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1- Về quan hệ hôn nhân xử: Anh Hoàng Văn C được ly hôn chị Triệu Thị Đ

2- Về con chung xử: Giao cháu Hoàng Nông Thu H, sinh ngày 12-12-2017 cho anh Hoàng Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chị Triệu Thị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con không ai được ngăn cản.

3- Về án phí: Anh Hoàng Văn C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) anh C đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số: AA/2017/0004831 ngày 13-5-2020 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện L. Anh C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4- Quyền kháng cáo:

- Anh Hoàng Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Chị Triệu Thị Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ