- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM ÚT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÆNH BÌNH THUAÄN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Baûn aùn soá: 36/2019/HSST. Ngaøy: 14/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: BÀ VŨ THỊ THANH HÒA.
Các Hội thẩm nhân dân.
1/ÔNG HỒ KHẮC TUẤN
2/ BÀ VŨ THỊ THIÊN TRANG
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ÔNG QUÁCH VĂN HOÀNG– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: BÀ TRẦN THỊ KIM TRANG – kiểm sát viên.
Ngày 14/5/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2019/HSST ngày 18/4/2019 đối với bị cáo:
PHẠM Ú – Sinh năm: 1998, tại: Bình Thuận. Nơi ĐKHKT và chỗ ở hiện nay: khu phố 05, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Số CMND: không có; Nghề nghiệp: lao động biển; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Con ông: Phạm B (chết) và bà: Lê Thị N, sinh năm 1953; Vợ con: chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 26/10/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự số 171/2016/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2017; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày: 22/11/2018; Chuyển sang tạm giam ngày: 01/12/2018; Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 00 phút ngày 28/9/2018, Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố Phan Thiết phối hợp cùng Công an phường L, thành phố Phan Thiết bắt quả tang tại nhà Phạm Ú sinh năm 1998, trú tại khu phố 05, phường L, thành phố P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ tang vật gồm:
01 đoạn ống nhựa dùng để uống nước, hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 1,5cm; bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng nén. Do Ú cất giấu trong túi quần Jean để trong tủ quần áo (ký hiệu M khi giám định).
01 ống bơm kim tiêm đã qua sử dụng, do Ú đã vứt ra đường hẻm gần nhà và tự nhặt giao nộp.
01 đoạn ống nhựa máu trắng hàn kín một đầu, kích thước khoảng 1,5cm thu giữ trong phòng ngủ nhà Ú.
Tại bản kết luận giám định số 917, ngày 11/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận đã kết luận:
“Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,0482 gam là heroin”
Hoàn lại mẫu vật sau giám định được niêm phong trong phong bì số 917 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
Quá trình điều tra, Phạm Ú khai về nguồn gốc số ma túy trên là vào khoảng 12 giờ ngày 28/9/2018, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Út đã đi bộ đến nhà bà Phạm Thị Ngọc H (tên gọi khác là Tiều, sinh năm 1966, trú tại khu phố 05, phường L, Tp. P) ở gần nhà Ú để mua 02 tép hêroin với giá 260.000 đồng. Ú mang 02 tép heroin về nhà sử dụng 01 tép bằng hình thức pha với nước rồi dùng kim tiêm vào người; 01 tép còn lại Ú cất giấu trong túi quần Jean, bỏ vào trong tủ quần áo thì bị kiểm tra, phát hiện. Tuy nhiên, quá trình điều tra Phạm Thị Ngọc H không thừa nhận lời khai của Ú và khẳng định không bán ma túy cho Ú.
Trong quá trình cơ quan điều tra đang củng cố hồ sơ để xử lý về hành vi trên của Ú thì đến khoảng 15 giờ ngày 22/11/2018, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Ú đón xe buýt từ nhà đến xóm Sình thuộc thị xã L, tỉnh Bình Thuận mua của một người thanh niên (không xác định được nhân thân) 12.000.000 đồng heroin đựng trong 05 gói nylon không màu, hàn kín và được quấn băng keo màu vàng bên ngoài. Sau đó, Ú cất giấu heroin trong người rồi đón xe buýt về lại Tp. Phan Thiết. Khi Ú vừa xuống xe thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Phan Thiết phối hợp với Công an phường L kiểm tra, bắt quả tang cùng tang vật gồm:
-05 gói lynon không màu, hàn kín, bên trong mỗi gói có chứa chất bột màu trắng dạng nén; được quấn băng keo màu vàng bên ngoài. Do Ú cất giấu trong quần lót và tự nguyện giao nộ (ký hiệu M khi giám định).
-1.500.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 06 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng).
Tại bản kết luận giám định số 1076, ngày 26/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận đã kết luận chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Ú vào ngày 22/11/2018, như sau:
“Mẫu M gửi giám định có khối lượng 18,2831 gam, là heroin”
Hoàn lại mẫu vật sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1076 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
Bản cáo trạng số 33/CT-VKS-HS ngày 16/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, truy tố Phạm Ú, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b, g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên quyết định truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Phạm Ú, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm b, g khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Phạm Ú từ 07 năm đến 08 năm tù.
Áp dụng: Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong số 917 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận và phong bì niêm số 1076 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận vì đây là vật chứng vụ án nhưng là vật cấm lưu hành.
Số tiền 1.500.000 đồng là tài sản của bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm việc thi hành án.
Bị cáo Phạm Ú không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[
Cơ quan điều tra Công an thàn phố Phan Thiết và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Phạm Ú tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và người làm chứng, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, các vật chứng đã thu giữ và kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu điều tra về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận Phạm Ú là người đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, mới chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/4/2017; vào lúc 13 giờ ngày 28/9/2018, tại nhà Ú thuộc khu phố 05, phường L, thành phố P thì Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Phan Thiết phối hợp với Công an phường L phát hiện bắt quả tang Ú có hành vi tàng trữ trái phép 0,0482gam heroin. Trong quá trình điều tra làm rõ hành vi trên thì vào lúc 19 giờ 30 phút, ngày 22/11/2018 Phạm Ú lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 18,2831gam heroin trong người tại khu phố 06, phường L, thành phố P thì bị bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Phạm Ú cho thấy bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người, sự phát triển giống nòi của dân tộc và là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội, bị cáo cũng nhận thức được heroin là loại ma túy gây nghiện, Nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ … trái phép chất ma túy nhưng bị cáo bất chấp hậu quả pháp lý. Rõ ràng hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Phạm Ú là hành vi cố ý, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, hơn nữa còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Hành vi vừa nên trên của Phạm Ú đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung hình phạt “phạm tội 02 lần trở lên” (lần phạm tội ngày 28/9/2018 và ngày 22/11/2018) và tàng trữ “Heroin… có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” (ngày 22/11/2018 Ú tàng trữ trái phép 18,2831 gam heroin) tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng đã truy tố là có căn cứ.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề xuất của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy là hợp lý vì quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thể hiện sự thành khẩn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo. Tuy nhiên, Ú có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án thì ngày 22/11/2018 lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra vụ án Phạm Ú khai nguồn gốc ma túy tàng trữ vào ngày 28/9/2018 là do mua của Phạm Thị Ngọc H nhưng trong quá trình điều tra không có căn cứ xác định Ú mua số ma túy này từ H nên không có căn cứ để xử lý H.
Số ma túy Ú tàng trữ bị bắt quả tang vào ngày 22/11/2018, Ú khai mua từ một người thanh niên nhưng không rõ nhân thân lai lịch. Do không xác định được nhân thân, địa chỉ của đối tượng này nên không có căn cứ để xử lý.
Việc xử lý như trên là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật nên không đặt ra để xử lý nữa.
Vật chứng của vụ ánï:
- Số tiền 1.500.000 đồng, xác định được đây là tiền của cá nhân Ú không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả cho Út. Tuy nhiên, để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự nên cần tiếp tục tạm giữ.
(Toàn bộ số tiền đã chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 18/4/2019).
- Một phong bì niêm phong số 917, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận và 01 phong bì niêm phong số 1076, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận. Đây là vật chứng của vụ án nhưng là vật cấm lưu hành, nghĩ nên tịch thu tiêu hủy.
(Hiện toàn bộ số tang vật trên đang tạm gửi tại Chi cục thi hành án dân sự Tp. Phan Thiết theo biên bản giao nhận vật chứng số 79 lập ngày 18/4/2019).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYEÁT ÑÒNH
Tuyên bố: Phạm Ú, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào: Điểm b, g khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự .
XÖÛ PHAÏT: Phạm Ú 08(Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 22/11/2018.
ÁP DỤNG: Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tiếp tục tạm giữ tiền 1.500.000 đồng, xác định được đây là tiền của cá nhân bị cáo Ú để bảo đảm việc thi hành án.
(Toàn bộ số tiền đã chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 18/4/2019).
Tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong số 917, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận và 01 phong bì niêm phong số 1076, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận. Đây là vật chứng của vụ án nhưng không có giá trị sử dụng và là vật cấm lưu hành.
(Hiện toàn bộ số tang vật trên đang tạm gửi tại Chi cục thi hành án dân sự Tp. Phan Thiết theo biên bản giao nhận vật chứng số 79 lập ngày 18/4/2019).
AÙP DUÏNG: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Phạm Ú phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/5/2019). Nôi nhaän:
| - Bị cáoï; - VKSND Tp. Phan Thiết; -VKSND tỉnh Bình Thuận;; -CQ-CSĐT Công an Tp. Phan Thiết; -Cơ quan Thi hành án hình sự CA Phan Thiết; -Nhà tạm giữ CA Tp. Phan Thiết; -Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú; - Löu hoà sô. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM Thaåm phaùn - Chuû toaï phieân toaø VŨ THỊ THANH HÒA |