vanban.org

Bản án 36/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 15/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. . Xử phạt: Bị cáo H.T.P. 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH S ÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:36/2019/HSST
Ngày 15 tháng 11 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng .

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lâm Kim Mến, Cán bộ hưu trí.

2. Bà Lâm Thị Tám, Cán bộ hưu trí .

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Nhường – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. H.T.P. (Vũ Phong), sinh năm 1994; Tại: huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: Ấp Hòa Tân, xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Thanh Thảo, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên, sinh năm 1974; bị cáo chưa có vợ; anh, chị em ruột có 02 người lớn sinh năm 1992, nhỏ là bị cáo; tiền án: không; tiền án: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 12 tháng 7 năm 2019 sau đó chuyển tạm giam đến nay. (Có mặt).

2. T.M.H. , sinh năm 1999; Tại: huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: Ấp Hòa Tân, xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần văn Giới, sinh năm 1976 và bà Trương Thị Giang, sinh năm 1974; bị cáo chưa có vợ ; anh, chị em ruột có 02 người lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 2003; tiền án: không; tiền án: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 12 tháng 7 năm 2019 sau đó chuyển tạm giam đến nay. (Có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông P.C.T. , sinh năm 1996.(Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Hòa Trung, xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

2. Ông P.V.T. , sinh năm 1972.(Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Hòa Trung, xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

3. Ông K.M.P. , sinh năm 1979.(Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Khu 3, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

* Người làm chứng:

1. Ông P.M.Đ. , sinh năm 2000.(Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Hòa Lời, xã Ngọc Đông, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

2. Ông Đ.M.D. , sinh năm 2001.(Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Hòa Trực, xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

3. Bà H.T.H.M. , sinh năm 1992.(Có mặt).

Địa chỉ: Ấp Hòa Tân, xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11/7/2019, H.T.P. có tổ chức uống rượu (nhậu) tại nhà của H.T.P. ở ấp Hòa Tân, xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên cùng với T.M.H. , P.M.Đ. , Phạm Trí Thức, còn Đ.M.D. thì không nhậu mà nằm ngủ tại bộ ván nhà sau gần đó. Tất cả nhậu đến khoảng gần 15 giờ cùng ngày, thì H.T.P. mới rủ T.M.H. đi bán cá lóc do Hồ Thanh Phong, T.M.H. đi câu trước đó để lấy tiền mua ma túy về sử dụng thì T.M.H. đồng ý. H.T.P. mới đem cá lóc bán cho chị ruột là H.T.H.M. (vừa đi làm ở thành phố về, đang sống chung nhà) được số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), đồng thời T.M.H. xin H.T.H.M. tiền để tiêu xài thì Muội cho T.M.H. số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) nên T.M.H. hùn vô thêm với H.T.P. để mua ma túy. Do không có xe đi nên H.T.P. hỏi mượn xe mô tô biển số 83F3-0658 (do ông K.M.P. đứng tên chủ sở hữu) của Phạm Trí Thức nói là đi mua đồ thì được Thức đồng ý, sau khi hỏi mượn được xe, H.T.P. mới lấy điện thoại di động của H.T.H.M. đang để trên bộ ván trong nhà, tháo sim của điện thoại của Muội ra và lắp sim điện thoại (không xác định được số thuê bao) của H.T.P. vào (do trong sim có lưu sẵn số điện thoại) rồi gọi cho một người phụ nữ lạ mặt (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) tại thị trấn Mỹ Xuyên, huyện Mỹ Xuyên để mua ma túy với số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), hẹn giao tại khu vực cầu đường bãi rác thuộc ấp Chợ Cũ, thị trấn Mỹ Xuyên, huyện Mỹ Xuyên. Sau đó, H.T.P. tháo sim điện thoại ra bỏ trong túi quần và trả điện thoại lại cho chị Muội. H.T.P. mới điều khiển xe môtô Biển kiểm soát 83F3-0658 chở T.M.H. đi đến khu vực cầu đường bãi rác thuộc ấp Chợ Cũ, thị trấn Mỹ Xuyên, huyện Mỹ Xuyên, khi đến gần cầu đường bãi rác thì H.T.P. dừng xe lại cho T.M.H. xuống, H.T.P. một mình điều khiển xe đi thêm khoảng 20 mét thì gặp một người phụ nữ cao khoảng 1 mét 60, dáng người ốm, độ tuổi khoảng 30 tuổi đưa cho Phong 02 bịch ma túy đá, H.T.P. trả số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) rồi cầm 02 bịch ma túy trên tay điều khiển xe quay lại rước T.M.H. . Khi gặp T.M.H. thì H.T.P. đưa 02 bịch ma túy cho T.M.H. và T.M.H. mới lấy 02 bịch ma túy bỏ vào gói thuốc Hero rồi bỏ vào túi quần trước bên tay phải của T.M.H. đang mặc và lên xe mô tô cho H.T.P. điều khiển chở đi về nhà Phong để sử dụng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi H.T.P. điều khiển xe chở T.M.H. đến phà Hòa Nhạn thuộc ấp Sông Cái 2, xã Tham Đôn, huyện Mỹ Xuyên thì bị Công an huyện Mỹ Xuyên kiểm tra bắt quả tang H.T.P. và T.M.H. có dấu hiệu tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong gói thuốc để ở túi quần bên phải của T.M.H. đang mặc có 02 bịch ni long màu trắng trong suốt được hàn kín hai đầu bên trong có chứa nhiều tinh thể màu trắng nghi là ma túy nên tiến hành niêm phong phục vụ công tác giám định.

Ngày 11 tháng 7 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên ra Quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng giám định về ma túy đối với 02 (hai) bịch nilon màu trắng trong suốt, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy.

Tại kết luận giám định số 77/GĐMT-PC09 ngày 14 tháng 7 năm 2019, Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận 02 (hai) bịch nilon: “Tinh thể được niêm phong gửi giám định, được niêm phong là ma túy, có khối lượng là 0,4079 gam, loại Methamphetamine”.

Bản cáo trạng số 37/CT-VKSMX ngày 03 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. theo như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo H.T.P. từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và xử phạt bị cáo T.M.H. từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Về xử lý vật chứng, áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong chứa tinh thể có tổng khối lượng 0,3765 gam Methamphetamine còn lại sau giám định vụ số 77/GĐMT-PC09 ngày 14 tháng 7 năm 2019; Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Hero, đã qua sử dụng; 05 điếu thuốc lá hiệu Hero; 01 cái hột quẹt gas màu vàng, đã qua sử dụng; trả cho ông P.V.T. 01 xe mô tô biển số 83F3-0658, loại Wave màu xanh, đã qua sử dụng.

Buộc bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố nên không có ý kiến tranh luận với Bản luận tội của Viện kiểm sát, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt khi nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Đối với các người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông P.C.T. , P.V.T. , K.M.P. ; các người làm chứng ông P.M.Đ. và ông Đ.M.D. đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Xét thấy họ đã có lời khai trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo và những chứng cứ đã thu thập cho nên sự vắng mặt của họ không trở ngại cho quá trình xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292,293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt các người tham gia tố tụng nêu trên.

Tại phiên tòa, bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tình tiết khác của vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 11/7/2019, tại ấp Sông Cái 2, xã Tham Đôn, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. có hành vi cùng tàng trữ 0,4079 gam Methamphetamine tại túi quần bên phải của bị cáo T.M.H. để sử dụng thì bị Công an huyện Mỹ Xuyên bắt quả tang. Do đó, bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. phải chịu trách nhiệm hình sự tổng khối lượng 0,4079 gam Methamphetamine.

Hành vi nêu trên của bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. thực hiện hành vi phạm tội là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân.

Hội đồng xét xử kết luận bị cáo bị cáo bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), như Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 03 tháng 10 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn của xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. phải bị xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo với đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. đã thành khẩn khai báo; đây là tình tiết thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự và bị cáo T.M.H. có ông nội là ông Trần Văn Bớt là người có công với cách mạng được nhà nước tặng Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng Ba, nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên để giảm nhẹ một phần hình phạt khi quyết định hình phạt đối với bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. .

Xét vai trò của bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. trong vụ án. Hai bị cáo có sự thống nhất về ý chí khi thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp đồng phạm. Tuy nhiên, hành vi phạm tội đơn giản các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo H.T.P. là người khởi xướng, kiếm tiền, trực tiếp liên hệ mua ma túy và là người chủ động mượn phương tiện chở bị cáo T.M.H. đi mua ma túy. Khi đến điểm hẹn, bị cáo H.T.P. chủ động dừng xe cho bị cáo T.M.H. đứng đợi còn bị cáo H.T.P. là người trực tiếp giao dịch với người bán ma túy. Bị cáo T.M.H. là người hùn tiền, đi mua ma túy cùng nhưng không trực tiếp giao dịch với người bán nhưng khi nhận được ma túy từ bị cáo H.T.P. thì bị cáo T.M.H. có hành vi cất giấu ma túy để cùng sử dụng chung với bị cáo Hồ Thanh Phong. Do đó xét tính chất vai trò của hai bị cáo trong vụ án cần xử lý bị cáo H.T.P. nghiêm hơn bị cáo T.M.H. là hợp lý và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong chứa tinh thể có tổng khối lượng 0,3765 gam Methamphetamine còn lại sau giám định vụ số 77/GĐMT-PC09 ngày 14 tháng 7 năm 2019; Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Hero, đã qua sử dụng; 05 điếu thuốc lá hiệu Hero; 01 cái hột quẹt gas màu vàng, đã qua sử dụng; trả cho ông P.V.T. 01 xe mô tô biển số 83F3-0658, loại Wave màu xanh, đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với Phạm Minh Đặng và Đ.M.D. không biết việc bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. tàng trữ trai phép chất ma túy, chỉ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.

Đối với xe mô tô 83F3-0658 do K.M.P. đứng tên trong giấy đăng ký xe. Tuy nhiên K.M.P. đã bán cho ông P.V.T. nhưng chưa sang tên, xe mô tô này do P.V.T. là cha ruột của Phạm Trí Thức quản lý và sử dụng nên cần xem xét trả chiếc xe này lại cho ông P.V.T. . Việc bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. mượn xe đi mua ma túy thì ông Tùng và Thức không biết, nên chưa có căn cứ để xử lý khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Đối với H.T.H.M. có dùng tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mua cá lóc của bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. , đồng thời có cho bị cáo T.M.H. số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) thì không biết bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. dùng số tiền này đi mua ma túy. Việc bị cáo H.T.P. lấy điện thoại của Muội để gắn sim điện thoại của bị cáo H.T.P. vô liên hệ mua ma túy thì H.T.H.M. cũng không biết, nên chưa có căn cứ để xử lý đối với hành vi trên của H.T.H.M. .

Đối với người phụ nữ lạ mặt bán ma túy cho bị cáo H.T.P. tại thị trấn Mỹ Xuyên, quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Đối với sim điện thoại của bị cáo H.T.P. dùng liên hệ mua ma túy thì quá trình bắt quả tang bị cáo H.T.P. đã làm rớt mất, nên cơ quan điều tra không thu hồi được, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Xét lời đề nghị của vị kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà hôm nay là áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo H.T.P. từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và xử phạt bị cáo T.M.H. từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. .

+ Xử phạt: Bị cáo H.T.P. 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, ngày 12 tháng 7 năm 2019.

+ Xử phạt: Bị cáo T.M.H. 01 (Một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, ngày 12 tháng 7 năm 2019.

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong chứa tinh thể có tổng khối lượng 0,3765 gam Methamphetamine còn lại sau giám định vụ số 77/GĐMT-PC09 ngày 14 tháng 7 năm 2019; Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Hero, đã qua sử dụng; 05 điếu thuốc lá hiệu Hero; 01 cái hột quẹt gas màu vàng, đã qua sử dụng; trả cho ông P.V.T. 01 xe mô tô biển số 83F3-0658, loại Wave màu xanh, đã qua sử dụng.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04 tháng 10 năm 2019).

4.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo H.T.P. và bị cáo T.M.H. mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ