vanban.org

Bản án 36/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau Tuyên án 23/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn Gh phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Quách Văn Gh 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được T từ ngày bị cáo chấp hành án. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Các Điều 584, 585, 591 Bộ luật dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 36/2019/HSST Tuyên án 23/09/2019
Phúc thẩm Bản án 179/2019/HS-PT Tuyên án 25/11/2019

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Văn Gh - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn Gh phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2019/HSST
Ngày 23 - 9 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU

- Tha phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳ nh Minh Tí nh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Tấn Liêm

Ông Hứa Việt Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Ngươn - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17, 18, 19, 20 và ngày 23 tháng 9 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2017/TLST-HS, ngày 29 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2019/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Quách Văn Gh - Sinh năm 1989 tại huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: ấp Lợi Đông, xã Hòa Mỹ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở hiện nay: ấp Lợi Đông, xã Hòa Mỹ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Gi T: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quách Văn Phương, sinh1966 và bà: Lê Thị Tha, sinh 1967; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biệ n phá p cấ m đi khỏ i nơi cư trú từ ngà y 12/9/2016 đến nay.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trầ n Hoà ng Phương , Văn phòng Luật sư Trần Hoàng Phương thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (Có mặt)

- Người bị hại: Anh Lê Ngọc Th, sinh năm 1993 (Chết)

Địa chỉ cư trú: ấp Tân Hiệp, xã Tân Hưng, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Lê Hoàng Cương, sinh năm 1966, là cha ruột của anh Th (Có mặt)

Địa chỉ cư trú: ấp Tân Hiệp, xã Tân Hưng, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Nguyễn Văn Nuôi, Văn phòng Luật sư Ánh Sáng thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị Tha, sinh năm 1967 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp Lợi Đông, xã Hòa Mỹ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

2. Anh Lê Thanh S, sinh năm 1993 (Có mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp Trần Độ, xã Thạnh Phú, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Người làm chứng:

1. Chị Bùi Ngọc Gi, sinh năm 1980 (Vắng mặt)

2. Anh Lê Tuấn Kh, sinh năm 1982 (Vắng mặt)

3. Anh Bùi Trọng T, sinh năm 1999 (Có mặt)

4. Bà Võ Hồng M, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp Đông Hưng, xã Tân Hưng Đông, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ, ngày 10/02/2016 anh Lê Thanh S do uống rượu say nên nhờ anh Lê Ngọc Th điều khiển xe môtô biển số 69K1–078.16 chở S từ thị trấn C, huyện C lưu thông trên Quốc lộ 1A hướng C – Cà Mau để về nhà của S ở xã Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, Th điều khiển xe chở S đến đoạn đường thuộc ấp Đông Hưng, xã Tân Hưng Đông, huyện C do tránh người đi bộ cùng chiều làm xe môtô bị ngã xuống đường, anh Th ngã sang bên trái cách tâm lộ khoảng 50cm (vẫn còn bên lề phải hướng đi), còn S thì nhào người về phía trước ngã vào lề phải theo hướng đi của xe. Lúc này, những người dân ở gần đó nghe tiếng ngã xe nên chạy đến xem thì thấy anh S đứng dậy được và dựng xe lên, còn Th cũng ngồi dậy được tại vị trí ngã dùng tay ôm chân. S và một số người dân chạy đến hỏi Th có sao không? Th trả lời không sao chỉ bị đau chân, khoảng 03 đến 04 phút sau thì có một xe môtô biển số kiểm soát 69E1 – 127.85 do Quách Văn Gh điều khiển chạy cùng chiều, do thấy tụ tập đông người nên Gh chỉ nhìn vào lề lộ mà không chú ý quan sát hướng đi nên đã đụng thẳng vào người anh Th đang ngồi ôm chân giữa lộ và kéo, lôi anh Th đi khoảng 13m thì xe của Gh ngã, làm anh Th bị thương nặng nên được anh Bùi Chí Thức và Gh đưa đến Bệnh viện đa khoa khu vực C cấp cứu nhưng sau đó tử vong.

Tại kết luận khám nghiệm tử thi số 54-GĐPY/2016 ngày 11/02/2016 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận:

+ Các tổn thương chính: Thái dương chẩm phải có vết trầy xướt da và bầm tụ máu; lỗ tai phải còn ra máu tươi; máu tụ nhiều dưới da đầu ở vùng thái dương chẩm phải, kích thước 15cm x 10cm và có vùng dập cơ; nứt sọ vùng chẩm phải, kích thước 09cm x 0,2cm có máu và dịch não tủy chảy ra.

+ Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não hở.

- Tại bản phân tích lỗi lúc 08 giờ 30 phút ngày 28/3/2016 của Đội CSGT – TT Công an huyện C xác định: Quách Văn Gh điều khiển xe mô tô 69E1 - 127.85 chạy trên đường không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi qua đoạn đường có hiện trường tai nạn giao thông đã gây ra tai nạn, vi phạm vào khoản 2 Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008 được hướng dẫn thực hiện tại khoản 5 Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT, ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải; điểm c khoản 6 Điều 6 Nghị định 171/2013/NĐ-CP, ngày 13/11/2013 của Chính phủ.

- Tại bản cáo trạng số: 11/KSĐT-TA ngày 29/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo Quách Văn Gh về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 202; khoản 2 Điều 46 và Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999 tuyên bố bị cáo Quách Văn Gh phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Quách Văn Gh mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Buộc bị cáo bồi thường tiền cho chi phí mai táng, tiền tàu xe cho gia đình bị hại là 56.500.000 đồng và tiền tổn thất tình thần là 60 tháng lương tối thiểu tương đương với số tiền là 89.400.000 đồng. Tổng cộng 02 khoản buộc bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại là 145.900.000 đồng.

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu xanh kiểu dáng nón kết; 01 nón kết màu trắng; 01 đôi dép màu đen có dòng chử Gucci; 02 miếng nhựa xe bể màu đỏ.Trả lại cho bà Lê Thị Tha là mẹ ruột của bị cáo xe mô tô mang biển số kiểm soát 69E1- 127.85.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Gh cho rằng những người làm chứng trong vụ án khai không trung thực, không khách quan. Xác định bị cáo Gh không có đụng vào người bị hại Th nên bị cáo Gh không có tội.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cho rằng: Bị cáo Quách Văn Gh điều khiển xe môtô biển số kiểm soát 69E1-127.85 chạy cùng chiều, do không chú ý quan sát hướng đi nên đã đụng thẳng vào người anh Th đang ngồi ôm chân giữa lộ và kéo, lôi anh Th đi khoảng 13m thì xe của Gh ngã, làm anh Th bị thương nặng sau đó tử vong. Lỗi chính trong vụ án là do Gh thiếu quan sát dẫn đến đụng trực tiếp vào anh Th nên bị cáo Gh phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Đề nghị buộc bị cáo Gh phải bồi thường tiền mai tán phí, tổn thất tin thần và các khoảng chi phí khác đúng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo cho rằng không có đụng vào người của bị hại Th nên bị cáo không có tội.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Quách Văn Gh không thừa nhận thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô đụng vào người của bị hại vào ngày 10/02/2016 và như nội dung của bản Cáo trạng đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo Quách Văn Gh khai nhận: Vào khoảng 21 giờ 10 phút, ngày 10/02/2016 bị cáo điều khiển xe môtô biển số kiểm soát 69E1- 127.85 lưu thông trên tuyến Quốc lộ 1A hướng C – Cà Mau, khi đến đoạn đường thuộc ấp Đông Hưng, xã Tân Hưng Đông thì thấy trên đường có tụ tập đông người nên bị cáo xác định có tai nạn giao thông hoặc đánh nhau nhưng nghĩ không liên quan đến mình nên vẫn tiếp tục điều khiển xe chạy tới. Khi đến đám đông do người dân hai bên tập trung ra hai bên lộ nên bị cáo điều khiển xe ra giữa lộ với vận tốc khoảng 40km/giờ, khi còn cách khoảng 5m thì phát hiện có chướng ngại vật phía trước là anh Lê Ngọc Th đang nằm giữa đường. Khi phát hiện anh Th, do bị cáo bất ngờ nên đã đứng lên trên xe bóp thắng tay, thắng chân nhưng xe vẫn đi tới nên làm xe ngã lộn nhào về phía trước. Do bất ngờ nên bị cáo cũng không xác định được là có đụng vào người anh Th và có lôi anh Th đi hay không, nếu có đụng vào người anh Th thì chỉ đụng từ phần thân dưới thắt lưng trở xuống. Bị cáo cho rằng không đụng vào anh Th, không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông gây ra cái chết cho anh Th nên bị cáo không có tội.

Xét tại biên bản hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, lời khai của đại diện hợp pháp người bị hại, những người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ có cơ sở xác định: Vào khoảng 21 giờ ngày 10/02/2016 Th điều khiển xe chở S trên tuyến quốc lộ 1A đã va chạm với người đi bộ ngã xe làm cho Th và S té xuống lộ nhưng chưa gây thương tích gì làm ảnh hưởng đến T mạng của Th. Sau khi ngã xe, có nghe rõ Th còn nói những người đi bộ đi gì mà đi hết lộ, đồng thời khi dẫn xe vào lề lộ thì S có hỏi Th có sao không, Th cũng trả lời không sao chỉ bị đau chân. Do đó, khi bị té xe Th vẫn còn nhận thức, bình tỉnh trả lời các câu hỏi của người khác, phù hợp với lời khai của các nhân chứng có mặt tại hiện trường, phù hợp với lời khai của anh T là người trực tiếp rọi đèn vào vùng đầu của Th, tất cả xác định khi té xe ban đầu thì Th không bị thương tích vùng đầu mà chỉ sau khi bị cáo Gh đụng vào Th và kéo đi 13m thì nón bảo hiểm Th đang đội trên đầu mới bị văng ra và lúc này mũi, miệng và lổ tay của Th mới bị chảy máu, Th bất tỉnh và sau đó tử vong.

Lời khai của những người làm chứng gồm: Chị Bùi Ngọc Gi, anh Lê Tuấn Kh, anh Bùi Trọng T, bà Võ Hồng M xác định: Vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 10/02/2016 khi bị hại Th bị ngã xe do va chạm với người đi bộ bị té và ngồi dậy khoảng 3-4 phút thì Quách Văn Gh chạy xe với vận tốc rất nhanh (khoảng 60-70km/giờ) tông thẳng vào người anh Th, lôi kéo đi một đoạn mới dừng lại, sau đó Th đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện và bị tử vong.

Tại các biên bản ghi lời khai đối với những người làm chứng gồm: Bà Võ Hồng M, Bùi Trọng T, Bùi Ngọc Gi và Lê Tuấn Kh đều thể hiện sau khi va quẹt với người đi bộ thì bị hại đã ngồi dậy được và khi được hỏi có sao không thì bị hại vẫn còn trả lời được là “không sao, chỉ bị đau chân” thì lúc này bị cáo điều khiển xe chạy đến đụng trực tiếp vào bị hại và kéo bị hại đi được một đoạn khoảng hơn 13 mét mới dừng lại. Ngoài những lời khai của các nhân chứng, người biết sự việc, thì bị cáo còn khai nhận trong lúc nhập viện điều trị và tại Cơ quan điều tra bị cáo điều khiển xe gần giữa lộ thì bị cáo thấy cách xe ở phía trước từ 5 đến 10m có một người đang nằm giữa lộ, thì lúc đó bị cáo chạy thẳng về người nằm giữa lộ chạy với vận khoảng 60km/h, lúc đó tay phải của bị cáo bóp chặt tay ga, nên xe mô tô phóng thẳng nhanh về phía trước người nằm giữa lộ, bị cáo đứng dậy đạp thắng chân, do mất bình tỉnh nhưng xử lý không kịp để tay ga bóp chặt xe phóng thẳng về phía trước va chạm đụng người đang nằm giữa lộ được thể hiện tại các biên bản ghi lời khai, bản cung, tờ tự nhận và hồ sơ bệnh án tại các bút lục: 91, 92, 176 đến 226, 236 đến 238, 431 đến 485.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường ngày 10/02/2016 và biên bản dựng lại hiện trường, sơ đồ hiện trường ngày 08/12/2016 và bản ảnh thể hiện vị trí bị hại ngã xe và ngồi dậy được lúc ban đầu đến vị trí bị hại nằm bất tỉnh trước đầu xe của bị cáo khoảng 13m. Vấn đề này cho thấy lời khai của những người chứng gồm chị M, anh T, chị Gi, anh Kh và lời khai của bị cáo khai nhận có đụng bị hại là phù hợp. Cho nên đã đủ cơ sở khẳng định bị cáo là người đã điều khiển xe đụng trực tiếp bị hại và kéo lê bị hại đi một đoạn khoảng 13m là có có sở. Tuy nhiên đối với những người làm chứng thì khai nhận bị hại khi ngã xe lúc ban đầu đã ngồi dậy được còn đội nón bảo hiểm và trả lời câu hỏi của người những người khác, còn bị cáo thì khai nhận đụng bị hại đang nằm giữa lộ, không có đội nón bảo hiểm. Vấn đề này lời khai của những người làm chứng là có cơ sở, còn lời khai của bị cáo là không có cơ sở, khai báo gian dối, quanh co, chối tội để nhằm che dấu hành vi phạm tội của mình. Bởi lẽ, căn cứ vào Biên bản khám nghiệm tử thi lúc 23 giờ 00 ngày 10/02/2016, Kết luận giám định pháp y tử thi số 54 ngày 11/02/2016, Công văn số 08 ngày 16/3/2016 và Công văn số 10 ngày 08/4/2016 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận “Chấn thương sọ nảo gây tổn thương nứt sọ khá lớn, có máu dịch nảo tủy chảy ra là tác động một lực rất mạnh va đập vào đầu, làm tổn thương tổ chức nảo. Do đó trường hợp bị hại Lê Ngọc Th bị thương như nêu trên thì không có khả năng có ý thức, bình tĩnh nhận thức để trả lời đúng những câu hỏi của người khác”. Do đó đủ cơ sở để khẳng định lời khai của những người làm chứng khai nhận bị hại đã ngồi dậy và đã trả lời đúng câu hỏi của người khác là đúng với thực tế và việc bị hại ngã xe ban đầu không phải là nguyên nhân dẫn đến cái chết cho bị hại, mà chính bị cáo đã điều khiển xe chạy không giảm tốc độ đâm thẳng vào đầu của bị hại và kéo bị hại đi một đoạn khoảng 13m mới dừng lại và gây ra cái chết cho bị hại, điều này cũng phù hợp với vật chứng đã được thu giữ, cụ thể đối với cái nón kết và nón bảo hiểm của bị hại đã bị bể và bị gách không còn nguyên vẹn như ban đầu và 02 cái nón được thu giữ trước đầu xe của bị cáo, gần bị hại nằm bất tỉnh.

Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, đại diện hợp pháp người bị hại, người làm chứng, những người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập thể hiện trong hồ sơ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 10/02/2016 khi bị hại Th bị ngã xe do va chạm với người đi bộ bị té và ngồi dậy khoảng 3-4 phút thì Quách Văn Gh chạy xe với vận tốc rất nhanh (khoảng 60-70km/giờ) tông thẳng vào người anh Th, lôi kéo đi một đoạn mới dừng lại, sau đó Th đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện và bị tử vong.

Hành vi của bị cáo điều khiển xe mô tô 69E1-127.85 chạy trên đường đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi qua đoạn đường có hiện trường tai nạn giao thông đã gây ra tai nạn, vi phạm vào khoản 2 Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008 được hướng dẫn thực hiện tại khoản 5 Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT, ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải; điểm c khoản 6 Điều 6 Nghị định 171/2013/NĐ-CP, ngày 13/11/2013 của Chính phủ. Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người trưởng Tha nhận thức bình thường, không có mắt bệnh gì, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, xét thấy Cáo trạng số 11/KSĐT-TA ngày 29/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo Quách Văn Gh về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật, đúng với hành vi của bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương huyện C nói riêng và tỉnh Cà Mau nói chung, gây tâm lý hoang mang cho những người dân tham gia giao thông đường bộ. Với loại tội phạm này trong thời gian gần đây có chiều hướng gia tăng không chỉ ở địa bàn huyện C mà nó còn xảy ra nhiều ở các huyện khác trong tỉnh, vấn đề tai nạn giao thông những năm gần đây trở Tha quốc nạn đã được Nhà nước ta đặc biệt coi trọng trong công tác tuyên truyền trên các trang báo viết, báo hình về những hình ảnh tai nạn thương tâm, thảm khốc, gây thiệt hại rất lớn về sức khỏe của con người và thiệt hại về kinh tế, nó để lại hậu quả vô cùng to lớn như mẹ, cha mất con; vợ mất chồng; gia đình mất đi người thân. Có những vụ đã để lại sự đau thương, thương tật về thể xác cho những ai còn sống sót trong thời gian dài, là gánh nặng của gia đình và xã hội.

Sau khi bị cáo điều khiển xe gây tai nạn làm bị hại tử vong, bị cáo không đến gia đình bị hại để an ủi, động viên hỏi thăm và không có hỗ trợ bồi thường tiền cho gia đình bị hại trong lúc khó khăn, để cho gia đình bị hại có một khoản tiền lo chi phí mai táng phí cho bị hại. Mặt khác bị cáo không biết ăn năn, hối cãi với những hành vi phạm tội của mình, mà còn gây cản trở cho quá trình điều tra, truy tố và xét xử như khai báo gian dối, không Tha khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, nhiều lần đến các Cơ quan có thẩm quyền làm đơn khiếu nại cho rằng mình không phạm tội, nhưng chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở khẳng định bị cáo là người gây ra cái chết cho bị hại. Do vậy cần xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian dài mới đảm bảo việc giáo dục cải tạo bị cáo Tha một công dân có ích cho xã hội để bị cáo biết ăn năn, hối cãi về việc làm vi phạm pháp luật của mình.

Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; cha ruột bị cáo là thương binh. Do đó, Hộ i đồ ng xé t xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô mang biển số kiểm soát 69K1-078.16; 01 giấy đăng ký xe mang tên Đoàn Hoàng Điểm. Quá trình điều tra đã chứng minh được xe mô tô trên không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

Đối với xe mô tô mang biển số kiểm soát 69E1- 127.85 là xe của mẹ ruột bị cáo là bà Lê Thị Tha, xét thấy không liên quan đến việc giải quyết vụ án nên trả lại cho bà Lê Thị Tha.

Đối với 01 mũ bảo hiểm màu xanh kiểu dáng nón kết; 01 nón kết màu trắng; 01 đôi dép màu đen có dòng chử Gucci; 02 miếng nhựa xe bể màu đỏ, xét thấy không có giá trị và không sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra, đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Lê Hoàng Cương cha ruột bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí mai táng gồm hòm 12.000.000 đồng; tẩm liệm và các dịch vụ mai táng là 10.000.000 đồng, hình, bia mộ, chân đèn 1.960.000 đồng, vận chuyển gạch làm mộ là 300.000 đồng, tiền xe chở Th là 700.000 đồng, vật liệu xây dựng làm mộ là 23.110.000 đồng, tạp hóa đồ khô là 5.027.000 đồng, tiền đi chợ là 7.787.000 đồng, thịt heo là 19.318.000 đồng, mướn rạp công làm mã là 9.400.000 đồng, tổng cộng là 89.602.000 đồng. Đồng thời, ông Cương yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần là 100 tháng lương tối thiểu. Đối với bị cáo Gh không đồng ý bồi thường tất cả các khoản cho gia đình người bị hại.

Tại phiên tòa hôm nay ông Cương là người đại diện hợp pháp cho bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản chi phí mai táng là 56.500.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 60 tháng lương tối thiểu. Xét thấy việc yêu cầu bồi thường của ông Cương là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận, do đó buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường chi phí mai táng, tiền xe các các chi phí khác cho gia đình bị hại số tiền là 56.500.000 đồng và 60 tháng lương tối thiểu tương đương số tiền là 89.400.000 đồng. Tổng cộng buộc bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại là 145.900.000 đồng

Về án phí hình sự và án phí dân sự: Buộ c bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 202; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn Gh phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Quách Văn Gh 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được T từ ngày bị cáo chấp hành án.

Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Các Điều 584, 585, 591 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Quách Văn Gh bồi thường cho gia đình người bị hại tổng số tiền là 145.900.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng).

Trong trường hợp, bị cáo Quách Văn Gh chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại 01 (Một) xe môtô hiệu Sirius biển số kiểm soát 69E1- 127.85 cho bà Lê Thị Tha.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) nón bảo hiểm màu xanh bị bể (dạng nón kết); 01 (Một) nón kết màu trắng bị rách; 01 (Một) đôi dép màu đen (có dòng chữ Gucci); 02(Hai) miếng mủ bể xe môtô. Hiện các vật chứng trên do Chi cục thi hành án Dân sự huyện C quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2017.

Về án phí: Áp dụng: Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộ c bị cáo Quách Văn Gh phải chịu số tiền là 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Buộ c bị cáo Quách Văn Gh phải chịu số tiền là 7.295.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự: Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, ông Cương, bà Tha, anh S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ