- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2019/HS-ST Ngày: 06/6/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Hà Thị Vẽ
Bà: Đặng Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Đức Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2019/HSST ngày 10 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/HSST-QĐ ngày 20 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H; tên gọi khác: không; sinh ngày 17 tháng 02 năm 1999 tại Quảng Bình; ĐKNKTT: Thôn L, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thái Phi, sinh năm: 1955 và bà Võ Thị Tuyết, sinh năm: 1960; ông bà đều trú tại: Thôn L, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 08/01/2019 bị Công an xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính 1.000.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/3/2019 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới. Bị cáo có mặt tại phiên tòa theo lệnh trích xuất.
* Người bị hại:
1. Phạm Thạch T, sinh: 1994; địa chỉ: thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Phạm Anh T, sinh: 1969; địa chỉ: thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
2. Trần Thanh H, sinh: 1980; địa chỉ: TDP2, phường Đ, TP. Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
3. Trần Hữu Ngọc S, sinh: 1993; địa chỉ: phường H, TP. Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
1. Đỗ Thành S, sinh: 2001; địa chỉ: xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/01/2019, Nguyễn Văn H đến quán Nét Khang ở số 01 đường T thuộc tổ dân phố 13, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình chơi điện tử, tại đây H gặp anh Phạm Thạch T. Do có quen biết với nhau từ trước, H mượn được xe mô tô H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản khi về quán Net Khang. H để xe ngoài cổng nói dối là xe hết xăng nên gửi lại quán cơm. Nghe như vậy anh T bảo H đi đổ xăng rồi đưa xe về trả lại cho T. Lúc này Nguyễn Văn H điều khiển xe đến tiệm mua bán xe máy HT ở tổ dân phố 2, phường Đ, thành phố Đồng Hới bán cho anh Trần Thanh H lấy 5.000.000đ rồi tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 12/01/2019, biết rõ chiếc xe mô tô trên do Nguyễn Văn H chiếm đoạt của anh Phạm Thạch T nên anh Trần Thanh H đã giao nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Hới để điều tra giải quyết vụ án. Ngày 24/01/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thanh phố Đồng Hới kết luận: xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu đỏ đen, BKS 73F1-056.35 trị giá 22.000.000đ
Bản Cáo trạng số 28/CT-VKS-ĐH-KT ngày 09/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo Nguyễn Văn H đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm; xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Áp dụng Điều 585, 586, 589 BLDS buộc thường số tiền 5.000.000đ cho anh Trần Thanh H.
Qua xét hỏi tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thành phố Đồng Hới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp cả về mặt thời gian, địa điểm và diễn biến quá trình phạm tội. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Do có sự quen biết từ trước nên khi gặp anh Phạm Thạch T, bị cáo mượn xe đi mua cơm, sau khi mượn được xe liền nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản rồi đưa đi bán lấy tiền tiêu xài. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận : Xe mô tô YAMAHA màu đỏ đen, BKS 73F1-056.35 trị giá 22.000.000đ. Với hành vi và giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt nêu trên có đủ căn cứ để kết luận Nguyễn Văn H phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" với tình tiết quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây thiệt hại về tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình tình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Đồng Hới, đặc biệt thể hiện việc xem thường sự tin tưởng của người khác và đánh mất lòng tin đối với những người thân quen. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ khả năng và trình độ nhận thức về xã hội nhưng vì ham chơi, đua đòi theo lối sống ích kỷ cá nhân, không chịu lao động chân chính, chỉ thích hưởng thụ trên mồ hôi công sức của người khác, đã lợi dụng sự quen biết và lòng tin của anh Toàn nói mượn xe sau đó nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản rồi đưa đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý thật nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175 BLHS để xét xử bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Liên quan đến vụ án này có đối tượng Trần Thanh H là người mua nhầm tài sản do Nguyễn Văn H bán. Quá trình điều tra hải khai không biết tài sản đó do H chiếm đoạt của anh T nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Thanh H nhưng tại phiên tòa cũng cần nhắc nhở để lấy đó làm bài học chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, sống phục thuộc bố mẹ, không có thu nhập và tài sản, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu đỏ đen, BKS 73F1-056.35 từ anh Trần Thanh H. Ngày 05/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều – Công an thành phố Đồng Hới ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho chủ sở hữu là ông Phạm Anh T là bố đẻ của anh Phạm Thạch T, ông T nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự : Anh Trần Thanh H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án do mua nhầm tài sản, yêu cầu bị cáo bồi hoàn số tiền mua nhầm là 5.000.000đ. Xét thấy yêu cầu của anh H có căn cứ cần chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 06/3/2019.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn H 45 ngày theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự : Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, 585, 586, 589 BLDS buộc bị cáo Nguyễn Văn H bồi hoàn số tiền là 5.000.000đ cho anh Trần Thanh H do mua nhầm tài sản.
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo,bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/6/2019).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - VKSND thành phố Đồng Hới; - Sở Tư pháp tỉnh; - Công an thành phố Đồng Hới; - Chi cục THADS thành phố Đồng Hới; - THA phạt tù; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Hoàng Thị Thanh Nhàn |