vanban.org

Bản án 36/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 22/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/6/2019). Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn L- Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2019/HS-ST
Ngày 22 - 8 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Liên Phƣơng

- Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Bốn

2. Bà Phan Thị Bích

- Thư ký phiên toà: Bà Dƣơng Thị Hƣờng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Duy Luận- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2019/TLST-HS, ngày 25 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

ĐỖ VĂN L - Giới tính: Nam; Sinh ngày 18/6/1985; tại Tuyên Quang

- Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn S, xã P, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

- Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;

- Nghề nghiệp: Lao động tự do; - Trình độ học vấn: 12/12;

- Họ tên cha: Đỗ Khắc T, (đã chết);

- Họ tên mẹ: Phạm Thị S, sinh năm 1957;

- Anh chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là thứ ba;

- Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1989

- Con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2012;

- Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

+ Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Thôn 2 M, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

( Anh Chuyền vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Ngƣời làm chứng: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1980

Địa chỉ: Thôn 1 M, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Văn L, sinh năm 1985, trú tại Thôn S, xã P, huyện H, sử dụng ma túy (Heroine) từ đầu tháng 5/2019. Khoảng 17 giờ ngày 16/6/2019 L đi xe máy một mình lên khu vực cầu V, thuộc thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết, khoảng 40 tuổi 03 gói nhỏ Heroine với giá 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng), sau khi mua được ma túy L cất giấu trong người và đi về nhà. Sáng ngày 17/6/2019, L lấy một ít Heroine ra sử dụng cho bản thân bằng cách hít vào cơ thể. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày khi L đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Nguyễn Văn C (là người nghiện ma túy đã quen biết nhau từ trước) gọi đến và hỏi “Còn hàng không mang cho anh hai con, mỗi con hai trăm” L trả lời “Có” và hẹn gặp C tại bờ sông khu vực bến đò thuộc thôn 8 M, xã Y, huyện H, L cầm 03 gói nhỏ Heroine cho vào túi quần đùi bên phải đang mặc trên người, mục đích mang đi để bán cho C. L đi bộ từ nhà ra bến đò thuộc Thôn S, xã P, huyện H, đi đò sang bên kia sông và gặp C đang đứng chờ ở đường mòn gần bờ sông, khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày như đã trao đổi từ trước C đưa cho L 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng), L cầm tiền và lấy 02 gói nhỏ Heroine từ trong túi quần ra đưa cho C, khi C đang đưa tay ra để cầm 02 gói ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Hàm Yên phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ gồm: 03 gói nhỏ bên ngoài là giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà, L khai nhận là Heroine, trong đó có 01 gói nhỏ cất giấu trong túi quần, gói ma túy mang theo mục đích để bán cho C do bị bắt quả tang chưa kịp đưa nốt nên L tự giác giao nộp; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A37 màu đen (máy cũ đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA 150, màu đen, (máy cũ đã qua sử dụng); tiền Việt Nam đồng 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng)

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể của Đỗ Văn L và Nguyễn Văn C đều (+) dương tính (Có chất ma tuý trong cơ thể).

Tại kết luận giám định số: 460/GĐKTHS ngày 17/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng ngà trong 03 (ba) gói nhỏ thu giữ của Đỗ Văn L gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, số thứ tự 09 thuộc danh mục IA, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; khối lượng 0,098g (Không phẩy không chín tám gam).

Trước cơ quan điều tra, Đỗ Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKSHY, ngày 23/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Đỗ Văn L về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với Đỗ Văn L theo tội danh đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo Đỗ Văn L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà và quá trình điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Hồi 13 giờ 45 phút ngày 17/6/2019 tại đoạn đường mòn dẫn đến khu vực bến đò ngang gần bờ sông Lô thuộc địa phận thôn 8 M, xã Y, huyện H, Đỗ Văn L đã có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Văn C 0,098g (Không phẩy không chín tám) gam ma túy, loại Heroine số thứ tự 09 thuộc danh mục IA, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ, với giá 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng), bị tổ Công tác công an huyện Hàm Yên phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Đỗ Văn L về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội.

Xét về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, Đỗ Văn L là người nghiện ma túy, bị cáo biết rõ tác hại của việc mua bán ma túy và sử dụng ma túy. Nhưng khi mua được ma túy bản thân Đỗ Văn L vừa sử dụng vừa bán lại nhằm mục đích kiếm lời; tuy bị cáo mới chỉ thực hiện việc bán ma túy một lần cho Nguyễn Văn C, nhưng hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho người khác và cho xã hội và làm nghiêm trọng thêm tệ nạn ma túy hiện nay, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh chống tệ nạn ma tuý, trực tiếp xâm hại đến chế độ quản lý sử dụng các chất ma tuý của Nhà nước, đồng thời còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến hạnh phúc nhiều gia đình, gây suy đồi đạo đức xã hội, gây thoái hóa giống nòi và là nguyên nhân xảy ra nhiều tội phạm khác, nên xử lý nghiêm khắc cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phục vụ công tác phòng chống tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; Gia đình bị cáo là hộ cận nghèo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Đỗ Văn L, Hội đồng xét xử xét thấy xử bị cáo với mức án khởi điểm như Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đề nghị tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ pháp luật.

Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên đã thu giữ của Đỗ Văn L: 03 gói nhỏ bên ngoài là giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà có khối lượng 0,098g (Không phẩy không chín tám gam) là Heroine, có số thứ tự 09 thuộc danh mục IA, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A37 màu đen, máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA 150, màu đen, máy cũ đã qua sử dụng; tiền Việt Nam đồng 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).

Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A37 màu đen. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định điện thoại là tài sản của bị cáo để sử dụng để liên lạc bán Heroine cho Nguyễn Văn C nên tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với số tiền Việt Nam đồng 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) cơ quan điều tra thu giữ là tiền do bị cáo pham tội mà có nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA 150 là điện thoại của Nguyễn Văn C. Tại phiên tòa anh C vắng mặt trong nội dung đơn xin xử vắng mặt anh C không đề nghị gì; HĐXX xét thấy nên tuyên trả điện thoại nêu trên cho anh C là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ Văn L vào ngày 17/6/2019. Ngày 24/6/2019, Công an huyện Hàm Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 28/QĐ-XPVPHC với hình thức Cảnh cáo là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho Đỗ Văn L ngày 16/6/2019 tại khu vực cầu V, thuộc thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Yên đã áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định, nhưng không xác định được người cụ thể, ngoài lời khai duy nhất của bị cáo ra không có tài liệu khác chứng minh nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/6/2019).

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn dán kín các mép, bên ngoài mặt trước ghi “Tang vật vụ ĐỖ VĂN L, giám định ngày 17/6/2019” bên trong phong bì niêm phong có chứa tang vật (ma túy) thu giữ của Đỗ Văn L có khối lượng là 0,098g (Không phẩy không chín tám); mặt sau mép dán có chữ ký của ông Trần Quốc Kh– Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang và các chữ ký giáp lai của Đỗ Văn L ở các mép dán cùng 05 (năm) hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.

- Tịch thu sung quỹ 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A37fw cảm ứng, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

- Trả lại anh Nguyễn Văn C: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 150, màu đen, máy cũ đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Hàm Yên với Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, lập ngày 24/7/2019).

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 400.000đồng (Bốn trăm nghìn đồng).

(Số tiền trên Công an huyện Hàm Yên đã giao cho Chi cục thi hành án dân sự Hàm Yên, thể hiện tại giấy uỷ nhiệm chi ngày 24 tháng 7 năm 2019).

Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

"Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Cỡ chữ