vanban.org

Bản án 36/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 20/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quý T phạm tội: T ng trữ trái phép chất ma túy ,

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quý T 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 01 năm 2019. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quý T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quý T phạm tội: T ng trữ trái phép chất ma túy ,
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC BÌNH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2019/HS-ST
Ngày: 20-6-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH - TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tấn Sinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Thị Hồng.

Bà Nguyễn Thị Phương Dung.

-Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Tằn Đình Thống – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2019/TLST-HS, ngày 06 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2019/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Quý T (Tên gọi khác: T Mèo), sinh ngày 23/8/1984 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: Khu phố HP, thị trấn CL, huyện BB, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quý L (chết) và bà Tô Thị T1; vợ: Huỳnh Thị Kim L1; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân của bị cáo: Ngày 27/7/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xử phạt 06 tháng tù về tội: Tiêu thụ t i sản do ngư i khác phạm tội m có , chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 26/10/2006 về địa phương.

Bị tạm giữ ngày 22/01/2019 đến ngày 31/01/2019 chuyển tạm giam; có mặt.

-Người làm chứng: Chị Huỳnh Thị Kim L1, sinh năm 1985; (Có mặt)

-Người chứng kiến: Ông Ung Văn T1; (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 gi 45 phút ngày 21/01/2019, Công an huyện Bắc Bình phối hợp cùng công an thị trấn CL bắt quả tang Đinh Tuấn V (ĐL) sinh năm 1993 ở khu phố Xuân Hội, thị trấn CL, huyện Bắc Bình cất giấu trên ngư i 01 (một) bịch nhựa cứng màu trắng, kích thước (02,5x02)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; V khai nhận l ma túy đá vừa mua từ một ngư i tên Đỏ bên hông nhà Nguyễn Quý T (T Mèo).

Lúc 13 gi ng y 22/01/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Bắc bình tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Quý T tại khu phố HP, thị trấn CL, huyện Bắc Bình thì phát hiện và lập biên bản thu giữ một số tang vật sau:

- Thu giữ trong tủ quần áo ở nhà T cất giấu 01 (một) hộp nhựa hình trụ có nắp đậy khóa, bên ngoài hộp nhựa có chữ XYLITOL, bên trong hộp nhựa có 01 (một) bịch nylon có kích thước khoảng (08x05)cm có khớp ép kín, bên trong bịch nylon có 09 (chín) bịch nylong nhựa cứng gồm 02 (hai) bịch nhựa cứng có kích thước (03x1,5)cm và 07 (bảy) bịch nhựa cứng, kích thước (02x1,5)cm, tất cả đều có chứa chất tinh thể dạng rắn, chưa xác định được trọng lượng, toàn bộ được niêm phong trong phong bì số 01 gửi giám định.

- Thu giữ trong tủ nhôm, loại tủ đựng quần áo 01 (một) cân tiểu ly, m u đen, kích thước khoảng (07x04)cm, 01 (một) kéo cắt bằng kim loại, kích thước 07cm, 03 đoạn ống nhựa cứng, kích thước (04x05)cm được vót nhọn hình mũi mác, 01 (một) bịch nylon nhựa cứng, kích thước (2,5x2,5)cm được bịt kín, bên trong có chứa chất tinh thể dạng rắn, chưa xác định được trọng lượng, tất cả được đựng trong một đoạn ống nhựa hình trụ có nắm đậy, loại ống 90. 01 (một) bịch nylon nhựa cứng, kích thước (2,5x2,5)cm được bịt kín, bên trong có chứa chất tinh thể dạng rắn, chưa xác định được trọng lượng được niêm phong trong phong bì số 02 gửi giám định.

-Thu giữ trên bàn gỗ ép có 01 (một) bịch nylon, bên trong có chứa 55 (năm mươi lăm) bịch nylon nhựa cứng, kích thước (03x01,5)cm, được bịt kín 03 đầu và 01 đầu mở, bên trong không có gì.

-Thu giữ bên trong nhà tắm, phía sau nhà 01 (một) bật lửa và 01 (một) bình nhựa, nắp m u đỏ dùng để sử dụng ma túy đá có gắn cò điếu.

-Thu giữ trong phòng ngủ của mẹ ruột Nguyễn Quý T 01 (một) hộp nhựa, nắp màu xanh, cao khoảng 15cm, bên trong có chứa 01 (một) bình thủy tinh dùng sử dụng ma túy đá v 03 bật lửa.

-Thu giữ trong ngư i của Nguyễn Quý T 01 (một) điện thoại di động hiệu samsung, màu trắng hồng nhạt, số Imel 352810/09/165711/0 có gắn sim số 0817446979.

Tại Bản kết luận giám định số 90/KLGĐ-PC09 ngày 29/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

- Phong bì số 01 được niêm phong, còn nguyên vẹn, trong phong bì có 09 (chín) gói nhựa cứng chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) là Methamphetamine, khối lượng là 1,4426 gam.

- Phong bì số 02 được niêm phong, còn nguyên vẹn, trong phong bì có 01 (một) gói nhựa cứng chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) là Methamphetamine, có khối lượng là 1,7489 gam

Quá trình điều tra, Nguyễn Quý T khai nhận bản thân l ngư i nghiện ma túy, T bắt đầu sử dụng ma túy vào khoảng năm 2017. Về nguồn gốc ma túy thu giữ tại nhà T khai là mua từ một ngu i tên Đồ (không rõ nhân thân, lai lịch) ở quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào khoảng 8 gi , ngày 16/01/2019, T dùng điện thoại Samsung màu trắng hồng nhạt, gắn sim số 0817446979 của T gọi cho ngư i tên Đồ hỏi mua ma túy v được đồng ý giao dịch. T gửi 1.900.000 đồng cho nữ nhân viên bán vé xe tại phòng bán vé xe Minh Nghĩa ở thị trấn CL và ghi số điện thoại của Đồ, T gọi cho Đồ thông báo đã gửi tiền, khi nào nhà xe gọi thì đến lấy tiền. Đến 17 gi ngày 17/01/2019, T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius đến phòng vé xe Minh Nghĩa để nhận hộp nhựa do Đồ gửi về. Sau khi mở hộp nhựa kiểm tra có 14 bịch ma túy, T gọi cho Đồ xác nhận lại gói hàng đúng là ma túy thì T mang số ma túy này về nhà cất giữ để sử dụng. 09 (chín) bịch ma túy T cất giấu trong hộp nhựa bên ngoài ghi nhãn XYLITOL, T cất trong tủ quần áo của con của T, chưa sử dụng thì bị phát hiện; 05 (năm) bịch ma túy T cất giấu trong tủ quần áo của T, T đã sử dụng hết 04 (bốn) bịch trong 05 (năm) bịch ma túy này, còn lại 01 (một) bịch ma túy chưa sử dụng thì bị phát hiện.

Các dụng cụ thu giữ kèm theo khi khám xét nhà, T khai nhận đó l những dụng cụ sử dụng ma túy. Chiếc điện thoại samsung màu trắng, hồng nhạt của T dùng để liên lạc với Đồ mua ma túy, chiếc xe Sirius T đã bán cho ngư i không rõ lai lịch cụ thể.

Chị Huỳnh Thị Kim L1 có l i khai: Các vật dụng thu giữ tại nhà là của riêng T. Chị Loan biết T có sử dụng ma túy nhưng không biết T có bán ma túy cho ai không v cũng không biết nơi T cất giấu ma túy.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình giữ nguyên quan điểm tại bản cáo trạng số: 27/CT-VKS.HBB ngày 04 tháng 5 năm 2019 v đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Quý T phạm tội T ng trữ trái phép chất ma túy ; đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Quý T từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị xử lý tang, vật chứng của vụ án như sau:

- Tịch thu tiêu hủy đối với: 09 (chín) gói nhựa cứng đã cắt lấy mẫu và 1,2108 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 90/1, 01 (một) gói nhựa cứng đã cắt lấy mẫu và 1,3832 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 90/2, 01 (một) hộp nhựa hình trụ có nắp đậy khóa, bên ngoài hộp nhựa có chữ XYLITOL, 01 (một) cân tiểu ly, m u đen, kích thước 07cmx04cm, 01 (một) kéo bằng kim loại, kích thước 07cm, 03 (ba) đoạn ống nhựa cứng, kích thước 04cmx05cm được vát nhọn hình mũi mác, 01 (một) bịch nylon, bên trong có chứa 55 (năm mươi lăm) bịch nylon nhựa cứng, kích thước 03cmx01,5cm, được bịt kín 03 (ba) đầu và 01 (một) đầu mở, bên trong không có gì, 01 (một) bình nhựa, nắp m u đỏ dùng để sử dụng ma túy đá có gắn cò điếu, 01 (một) hộp nhựa, nắp màu xanh, cao khoảng 15cm, bên trong có chứa 01 (một) bình thủy tinh dùng sử dụng ma túy đá v 04 (bốn) bật lửa.

- Tịch thu, nộp ngân sách nh nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu samsung, màu trắng, hồng nhạt, số Imel 352810/09/165711/0 có gắn sim số 0817446979.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã th nh khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đồng ý với luận tội của vị đại diện viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận. L i nói sau cùng bị cáo đã nhận ra lỗi của bị cáo, bị cáo đã sai, bị cáo mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm quay về với gia đình, trở thành công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện BB, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quý T không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng.

Xét l i khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Quý T l ngư i có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã mua v cất giữ tại chỗ ở của mình 3,1915 gam Methamphetamine thì bị phát hiện và bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đối với bị cáo l đúng ngư i, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Quý T nhận biết được ma túy là chất cấm, được nhà nước độc quyền quản lý. Hành vi mua và cất giữ ma túy của bị cáo là cố ý, trái pháp luật, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nh nước về các chất ma túy nhưng do nghiện hút, để thỏa mãn cho nhu cầu sử dụng của mình mà bị cáo đã cố ý thực hiện. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, không những ảnh hưởng xấu đến tinh thần và sức khỏe của ngư i sử dụng mà còn tiếp tay cho các tệ nạn xã hội, làm phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi của bị cáo là trái pháp luật, rất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho những ngư i xung quanh. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội một th i gian nhất định để bị cáo tu dưỡng bản thân, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng đã khai báo th nh khẩn. Đây l tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sẽ áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Quý T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo từng bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt 06 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do ngư i khác phạm tội mà có . Nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.

Đối với ngư i tên Đồ bán ma túy cho T, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau l đúng quy định pháp luật.

Đối với nữ nhân viên bán vé xe đã nhận hộp đồ của Đồ gửi cho T tên Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1982 ở thôn Lâm Lộc 1, xã Hòa Minh, huyện Tuy Phong khai không biết việc mua bán ma túy giữa Đồ và Nguyễn Quý T nên không xem xét, xử lý l đúng quy định pháp luật.

Về tang, vật chứng của vụ án:

- 09 (chín) gói nhựa cứng đã cắt lấy mẫu và 1,2108 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 90/1, 01 (một) gói nhựa cứng đã cắt lấy mẫu và 1,3832 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 90/2 là chất nh nước cấm lưu h nh nên tịch thu, tiêu hủy.

- 01 (một) hộp nhựa hình trụ có nắp đậy khóa, bên ngoài hộp nhựa có chữ XYLITOL, 01 (một) cân tiểu ly, m u đen, kích thước 07cmx04cm, 01 (một) kéo bằng kim loại, kích thước 07cm, 03 (ba) đoạn ống nhựa cứng, kích thước 04cmx05cm được vát nhọn hình mũi mác, 01 (một) bịch nylon, bên trong có chứa 55 (năm mươi lăm) bịch nylon nhựa cứng, kích thước 03cmx01,5cm, được bịt kín 03 (ba) đầu và 01 (một) đầu mở, bên trong không có gì, 01 (một) bình nhựa, nắp m u đỏ dùng để sử dụng ma túy đá có gắn cò điếu, 01 (một) hộp nhựa, nắp màu xanh, cao khoảng 15cm, bên trong có chứa 01 (một) bình thủy tinh dùng sử dụng ma túy đá v 04 (bốn) bật lửa là những dụng cụ sử dụng ma túy, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu samsung, màu trắng hồng nhạt, số Imel 352810/09/165711/0 có gắn sim số 0817446979 là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nh nước.

Đối với chiếc xe Sirius T khai dùng để điều khiển đến phòng vé xe Minh Nghĩa nhận ma túy, T đã bán cho ngư i không rõ lai lịch do không thu giữ được nên không có cơ sở xem xét, giải quyết trong vụ án.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật;

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quý T phạm tội: T ng trữ trái phép chất ma túy ,

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quý T 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 01 năm 2019.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

-Tịch thu tiêu hủy đối với: 09 (chín) gói nhựa cứng đã cắt lấy mẫu và 1,2108 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 90/1, 01 (một) gói nhựa cứng đã cắt lấy mẫu và 1,3832 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 90/2, 01 (một) hộp nhựa hình trụ có nắp đậy khóa, bên ngoài hộp nhựa có chữ XYLITOL, 01 (một) cân tiểu ly, m u đen, kích thước 07cmx04cm, 01 (một) kéo bằng kim loại, kích thước 07cm, 03 (ba) đoạn ống nhựa cứng, kích thước 04cmx05cm được vát nhọn hình mũi mác, 01 (một) bịch nylon, bên trong có chứa 55 (năm mươi lăm) bịch nylon nhựa cứng, kích thước 03cmx01,5cm, được bịt kín 03 (ba) đầu và 01 (một) đầu mở, bên trong không có gì, 01 (một) bình nhựa, nắp m u đỏ dùng để sử dụng ma túy đá có gắn cò điếu, 01 (một) hộp nhựa, nắp màu xanh, cao khoảng 15cm, bên trong có chứa 01 (một) bình thủy tinh dùng sử dụng ma túy đá v 04 (bốn) bật lửa.

-Tịch thu, nộp ngân sách nh nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu samsung, màu trắng hồng nhạt, số Imel 352810/09/165711/0 có gắn sim số 0817446979.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/5/2019 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Bắc Bình và chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình)

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Quý T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/6/2019).

Cỡ chữ