- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị N phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2019/HS-PT Ngày 18- 9- 2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Trung Dũng
Các Thẩm phán:
ông Trần Trung Hải
bà Nguyễn Thị Vân
- Thư ký phiên toà: ông Vũ Hoàng Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: ông Hà Đình Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 41/2019/TLPT-HS ngày 12 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo Nguyễn Thị N do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2019/HS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị N sinh ngày 07 tháng 01 năm 1977 tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái; cư trú tại: Tổ 05 phường T, thị xã N, tỉnh Y; Quốc tịch: Việt nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Bá H, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị L sinh năm 1957; Chồng là Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1975 và có 02 con (lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2002); tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29- 10-2018 đến ngày 06- 11- 2018, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt.
- Ngoài ra còn có 04 bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày, nên ngày 28/10/2018 Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị L, Vũ Thế Q, Vũ Thị B và Bùi Quốc K đã đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề được thua bằng tiền với nhau và với những người khác. Cách được các đối tượng quy ước như sau:
Chơi số đề là lấy kết quả hai số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày hôm đó, nếu ô số người chơi mua trùng với hai số cuối cùng của giải đặc biệt thì có nghĩa người chơi trúng đề và được trả gấp từ 65 đến 70 lần. Trong chơi số đề thì người chơi có thể mua theo hệ, đầu, đuôi, tổng, kép, dây…
Chơi lô (Lô thường hai số) là lấy kết quả hai số cuối của 27 giải (Từ giải đặc biệt đến giải bẩy) xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày hôm đó, người mua phải trả cho người bán từ 22.000,đ đến 23.000đ một số và được gọi là 01 điểm, nếu số lô mà người chơi đã mua trùng với hai số cuối của một trong 27 giải thì sẽ được trả 80.000đ/1 điểm, nếu trùng hai lần thì được trả 160.000đ/1 điểm, trùng ba lần được trả 240.000đ/1 điểm.
Về tỉ lệ tiền thu, tỷ lệ được thua, phương thức thanh toán cụ thể như sau:
Vũ Thế Qthu 75% tổng số tiền người chơi bỏ ra mua số đề của Q. Nếu người chơi trúng đề thì sẽ được Q trả gấp 67 lần giá trị tiền đã bỏ ra mua (1 x 67 lần). Đối với những người chơi lô, người chơi mua một số lô phải trả cho Q 22.500đ/ 01 điểm. Vũ Thế Q trực tiếp mua số lô của Nguyễn Thị N được N tính với giá 22.000đ/1 điểm, nếu trúng sẽ được N trả cho 80.000đ/1 điểm.
Nguyễn Thị L thu 75% tổng số tiền người chơi bỏ ra mua số đề của L. Nếu người chơi trúng đề, đối với những người mà L quen biết, L sẽ trả gấp 67 lần (1 x 67 lần), những người không quen biết sẽ trả 65 lần (1 x 65 lần). Đối với số lô, L sẽ thu 22.500 đồng/1 điểm với những người mua số lô trên 20 điểm, với những người mua số lô dưới 20 điểm, lý sẽ thu 23.000 đồng/1 điểm. Những người quen biết, L sẽ trả 80.000 đồng/1 điểm lô (1 x 80 lần), những người không quen, L sẽ trả 78.000 đồng/1 điểm lô.
Nguyễn Thị N thống nhất với các đối tượng như sau:
Đối với Nguyễn Thị L và Vũ Thế Q, thì N thu 74% tổng số tiền L và Q bỏ ra mua số đề và 22.000đ/1 điểm lô. Nếu trúng thưởng, N sẽ trả 69 lần đối với đề (1 x 69 lần); đối với lô, N trả 80.000đ/1 điểm lô.
Đối với Vũ Thị B, thì N thu 73% tổng số tiền B bỏ ra mua số đề và 22.000đ/1 điểm lô. Nếu trúng thưởng, N sẽ trả 70 lần đối với đề (1 x 70 lần); đối với lô, N trả 80.000đ/1 điểm lô.
Đối với Bùi Quốc K, thì N thu 75% tổng số tiền K bỏ ra mua số đề và 22.500đ/1 điểm lô. Nếu trúng thưởng, N sẽ trả 65 lần đối với đề (1 x 65 lần); đối với lô, N trả 80.000đ/1 điểm lô.
Đối với những người không quen biết, N thu 74% tổng số tiền người chơi bỏ ra mua số đề và 22.500đ/1 điểm lô. Nếu trúng thưởng, N sẽ trả 68 lần đối với đề (1 x 68 lần); đối với lô, N trả 80.000đ/1 điểm lô.
Hồi 17 giờ 25 phút ngày 28-10-2018, tại bản Ỏ, xã Phù Nham, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, Công an tỉnh Yên Bái phát hiện bắt quả tang Sầm Văn Ng đang có hành vi bán số lô, số đề cho Đinh Văn C với tổng số tiền 520.000 đồng. Ng khai, sau khi bán số lô, số đề cho C, thì Ng sử dụng điện thoại di động chuyển các số lô, số đề trên bán cho Nguyễn Thị L, để hưởng phần trăm chênh lệch.
Ngày 28-10-2018, Vũ Thế Q sử dụng điện thoại di động nhận tin nhắn bán số lô, số đề cho: Trịnh Ngọc S 770.000đ, Cầm Ngọc L 160.000 đồng, Hoàng Văn N 2.480.000 đồng và Trịnh Kim P 2.200.000 đồng. Sau đó Q chuyển toàn bộ những số lô, số đề vừa bán được cho mẹ đẻ là Nguyễn Thị L, để L tổng hợp lại và chuyển cho người khác. Ngoài ra, ngày 28-10-2018 Vũ Thế Q còn trực tiếp nhắn tin mua 01 số lô của Nguyễn Thị N số tiền là 1.100.000 đồng. Ngày 29-10-2018 Q bị phát hiện và kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 28-10-2018 đã mở thưởng, Trịnh Ngọc S trúng 20.000đ tiền đề (Bằng 1.340.000đ), những người khác và Q không trúng lô, số đề. Vì vậy tổng số tiền mà Vũ Thế Q dùng vào việc đánh bạc ngày 28-10-2018 là 8.050.000 đồng. Số tiền mua bán số lô, số đề nêu trên các đối tượng chưa thanh toán cho nhau.
Ngày 28-10-2018, Nguyễn Thị L ngoài bán số lô, số đề cho Sầm Văn N 510.000 đồng, Vũ Thế Q 5.610.000 đồng, Lcòn bán số lô, số đề cho Ngụy Giang N 1.800.000 đồng và một số người không biết họ tên, địa chỉ với số tiền là 17.605.500 đồng, (Tiền đề 2.643.000 đồng; Tiền lô 14.962.500 đồng). Ngoài ra Nguyễn Thị L còn trực tiếp nhắn tin mua 01 số lô (15 điểm lô) của Nguyễn Thị N, với số tiền là 330.000 đồng. Ngày 28-10-2018 L bị phát hiện và kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 28-10-2018 đã mở thưởng, Vũ Thế Q trúng 20.000 đồng tiền đề bằng 1.340.000 đồng; Những người L không biết tên, địa chỉ trúng 60.000 đồng tiền đề bằng 3.900.000 đồng và 240 điểm lô bằng 18.720.000 đồng. Vì vậy tổng số tiền mà Nguyễn Thị L dùng vào việc đánh bạc ngày 28-10-2018 là 49.815.500 đồng (510.000đ + 5.610.000đ + 1.800.000đ + 17.605.500đ + 330.000đ + 1.340.000đ + 3.900.000đ + 18.720.000đ). Số tiền mua bán số lô, số đề nêu trên L, Ng, Q, N, và Nguyễn Thị N chưa thanh toán cho nhau. Số tiền thực tế mà Nguyễn Thị L thu được của những người chơi không biết tên, địa chỉ là 16.944.500 đồng, số tiền này L đã thanh toán cho những người chơi trúng thưởng ngày hôm trước và chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 28-10-2018, Nguyễn Thị N bán số lô cho Vũ Thế Q 1.100.000 đồng, Nguyễn Thị L 18.855.000 đồng, Bùi Quốc K 2.367.500 đồng, Vũ Thị B 20.200.000 đồng và một số người không biết tên, địa chỉ với tổng số tiền là 4.810.000 đồng. Ngày 28-10-2018, N bị phát hiện và kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 28-10-2018 đã mở thưởng, Nguyễn Thị L trúng thưởng lô, số đề với tổng số tiền là 21.270.000 đồng (240 điểm lô = 19.200.000đ; Tiền đề 30.000 đồng = 2.070.000đ); Bùi Quốc K trúng thưởng lô, số đề với tổng số tiền là 3.800.000 đồng (15 điểm lô = 1.200.000 đồng; Tiền đề 40.000 đồng = 2.600.000đ); Vũ Thị B trúng thưởng lô, số đề với tổng số tiền là 24.400.000 đồng (60 điểm lô = 4.800.000 đồng; Tiền đề 280.000 đồng = 19.600.000đ); Những người N không biết tên, địa chỉ trúng thưởng 45 điểm lô = 3.600.000 đồng. Vì vậy tổng số tiền mà Nguyễn Thị N dùng vào việc đánh bạc ngày 28-10-2018 là 100.402.500 đồng (1.100.000đ + 18.855.000đ + 2.367.500đ + 20.200.000đ + 4.810.000đ + 21.270.000đ + 3.800.000đ + 24.400.000đ + 3.600.000đ). Số tiền mua bán số lô, số đề, tiền trúng lô, số đề, N, L, Q, K, B chưa thanh toán cho nhau. Số tiền thực tế mà Nguyễn Thị N thu được của những người chơi không biết tên, địa chỉ là 4.017.000 đồng, số tiền trên N đã thanh toán cho những người chơi trúng thưởng ngày hôm trước hết.
Ngày 28-10-2018 Vũ Thị B (Do đã thỏa thuận trước với Nguyễn Thị N về cách thức chơi số lô, số đề, về tỷ lệ phần trăm được thua, cách thức thanh toán), nên sử dụng điện thoại di động gửi 02 tin nhắn mua số lô, số đề của N với tổng số tiền là 20.200.000 đồng. Ngày 28-10-2018 B bị phát hiện và kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 28-10-2018 đã mở thưởng, B trúng thưởng lô, số đề với tổng số tiền là 24.400.000 đồng (60 điểm lô = 4.800.000 đồng; Tiền đề 280.000 đồng = 19.600.000đ). Vì vậy tổng số tiền mà Vũ Thị B dùng vào việc đánh bạc ngày 28-10-2018 là 44.600.000 đồng.
Ngày 28-10-2018, Bùi Quốc K sử dụng điện thoại di động gửi 02 tin nhắn mua số lô, số đề của Ngân với tổng số tiền là 2.367.500 đồng. Ngày 28-10-2018 K bị phát hiện và kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 28-10-2018 đã mở thưởng, K trúng lô, số đề với tổng số tiền là 3.800.000 đồng (15 điểm lô = 1.200.000 đồng; Tiền đề 40.000 đồng = 2.600.000đ). Vì vậy tổng số tiền mà Bùi Quốc K dùng vào việc đánh bạc ngày 28-10-2018 là 6.167.500 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2019/HS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái đã quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Đánh Bạc”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 03 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ 09 (Chín) ngày tạm giữ (Từ 29/10/2018 đến 06/11/2018). Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị N 15.000.000,đồng (Mười lăm triệu đồng).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với 04 bị cáo khác; quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16 tháng 7 năm 2019, bị cáo Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị N khai nhận ngày 28-10-2018 đã tham gia đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề; bị cáo thừa nhận tổng số tiền được bị cáo dùng để đánh bạc là 100.402.500 đồng và việc án sơ thẩm kết án bị cáo phạm tội Đánh bạc là đúng. Tuy nhiên, bị cáo N đề nghị cấp phúc thẩm xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện nộp số tiền phạt và tiền truy thu theo quyết định của Bản án sơ thẩm. Mặt khác, bị cáo đã tích cực giúp cơ quan Công an trong việc đấu tranh, phòng ngừa tệ nạn ma túy và tệ nạn đánh bạc trên địa bàn, được Công an xã Nghĩa Phúc, thị xã Nghĩa Lộ xác nhận. Do đó, bị cáo đề nghị được giảm hình phạt và được hưởng án treo.
Kiểm sát viên trình bày quan điểm về việc xem xét phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N như sau: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo N về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt mà Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo N thể hiện thực sự ăn năn hối cải và đã được xác nhận về việc giúp lực lượng Công an trong công tác phòng ngừa tệ nạn xã hội. Do đó có cơ sở để chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo về việc cho bị cáo được hưởng án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2019/HS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái như sau:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngân phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị N không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin đề nghị được giảm hình phạt và được hưởng án treo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Kháng cáo bị cáo Nguyễn Thị N đúng hình thức, trong hạn luật định, đủ điều kiện để giải quyết phúc thẩm.
Lời khai tại phiên tòa phúc thẩm của bị cáo Nguyễn Thị N phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ đó đã đủ căn cứ kết luận: Ngày 28- 10-2018, bị cáo Nguyễn Thị N đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề; tổng số tiền được bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 100.402.500 đồng. Do hành vi nêu trên, Bản án sơ thẩm đã kết án bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật
Xét nội dung yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị N đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét bị Nguyễn Thị N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo với mức án 03 năm tù là thỏa đáng, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ngân đã bày tỏ nhận thức được lỗi lầm và có thái độ thực sự ăn năn, hối cải, thể hiện qua việc tự giác nộp tiền phạt, tiền truy thu theo quyết định của Bản án sơ thẩm, đây là tình tiết bổ sung làm tăng mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, tại Giấy xác nhận số 16/XN-CA ngày 15-7-2019 của Công an xã Nghĩa Phúc, thị xã Nghĩa Lộ xác nhận bị cáo có những việc làm giúp lực lượng Công an trong công tác phòng ngừa tệ nạn xã hội, duy trì xã chuẩn an toàn về an ninh, trật tự xã hội, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo N là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, đủ điều kiện hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15- 5- 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin được hưởng án treo, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời vẫn đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2019/HS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái như sau:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N03 (ba) năm tù cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã N, tỉnh Y giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà Nội; - Vụ GĐKT I-TAND tối cao; - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái ; - VKSND tỉnh Yên Bái; - TAND thị xã Nghĩa Lộ(2); - VKSND thị xã Nghĩa Lộ; - Công an thị xã Nghĩa Lộ; - Chi cục THADS Tx Nghĩa Lộ; - Bị cáo N; - UBND phường T, thị xã N; - Lưu: HS(2), TA, tiểu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trung Dũng |