- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2019/HNGĐ- ST Ngày: 11-9-2019 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Hiền
2. Bà Vũ Văn Chuyển
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 254/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 623/2019/QĐXX-ST ngày 09 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 692/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Minh N- Sinh năm 1969
Địa chỉ: Tổ 57A, khu 6C, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
(có mặt)
2. Bị đơn: Anh Ngô Minh K - Sinh năm 1962
Địa chỉ: Tổ 20, khu 17, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 5 năm 2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị Minh N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Minh N và anh Ngô Minh K đăng ký kết hôn ngày 09/4/2008 tại UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn hai bên được tìm hiểu tự nguyện không ai bị ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà riêng của chị N tại Tổ 57A, khu 6C, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu do anh K không có trách nhiệm với vợ con, thường xuyên tụ tập chơi bời nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Anh K đã đi khỏi nhà chị N từ tháng 4/2019 và thỉnh thoảng về rồi lại đi, tình cảm vợ chồng không cải thiện. Nay chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Minh K.
Về con chung: Chị N trình bày vợ chồng có 01 con chung là cháu Ngô Kim N1 – Sinh ngày 01/4/2010;
Nếu ly hôn, chị N xin được trực tiếp nuôi con chung và không đề nghị anh K cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị N xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn là anh Ngô Minh K vắng mặt: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh K vắng mặt không có lý do. Ngày 03/6/2019, Tòa án đã lập biên bản làm việc tại gia đình anh K có sự tham gia của bố anh K là ông Ngô Sỹ G cho biết: chị Chị Bùi Thị Minh Nt và anh Ngô Minh K đăng ký kết hôn ngày 09/4/2008 tại UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, hộ khẩu của anh K vẫn ở tại tổ 20, khu 17, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, anh K sống cùng chị N tại nhà riêng của chị N ở Tổ 57A, khu 6C, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng chị N và anh K có mâu thuẫn nhưng cụ thể thì gia đình anh K không biết. Giữa chị N và anh K có 01 con chung là cháu Ngô Kim N, hiện nay cháu đang ở cùng chị N. Từ tháng 4/2019 anh K không về nhà ông G1 nữa nhưng thỉnh thoảng có liên lạc về, cụ thể anh K đang ở đâu, gia đình không nắm được. các giấy tờ Tòa án giao, ông đều thông báo lại cho anh K khi anh K liên lạc về với gia đình nhưng anh K không có ý kiến gì.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi không nhận các thông báo cũng như các quyết định của Tòa án, không đến Tòa án theo giấy triệu tập.
Về nội dung vụ án:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị Minh N: xử cho chị N được ly hôn với anh Ngô Minh K.
- Về con chung: Giao cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Ngô Kim N1 – Sinh ngày 01/4/2010. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N do chị N không yêu cầu.
- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Không xem xét giải quyết vì chị Nguyệt không yêu cầu.
- Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định của Pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, bị đơn vắng mặt. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn có nơi cư trú tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Xét về sự vắng mặt của anh Ngô Minh K, Hội đồng xét xử thấy rằng: qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh K không đến Tòa án để giải quyết vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải được là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 09/8/2019 Tòa án đưa vụ án ra xét xử và niêm yết tại nơi cư trú của anh K nhưng anh K vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa cho gia đình anh K và niêm yết tại nơi cư trú của anh K. Tại phiên tòa hôm nay anh K vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Ngô Minh K là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Minh N và anh Ngô Minh K đăng ký kết hôn ngày 09/4/2008 tại UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, trước khi kết hôn được tìm hiểu tự nguyện không ai bị ép buộc. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu do anh K không có trách nhiệm với vợ con, thường xuyên tụ tập chơi bời. Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình giải quyết tại Tòa án chị N cương quyết xin ly hôn còn anh K vắng mặt không có lý do nên không có quan điểm.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị Minh N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa chị N và anh K đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là theo lời trình bày của chị N là anh K không quan tâm đến vợ con, thường xuyên tụ tập chơi bời. Tại biên bản làm việc cùng với bố anh K là ông Ngô Sỹ G1, ông G1 xác định giữa chị N và anh K có mâu thuẫn nguyên nhân cụ thể ông không biết, anh K đã mấy tháng không về nhà, chỉ liên lạc về, cụ thể anh K ở đâu ông G1 cũng không biết. Tại biên bản xác minh ngày 03/6/2019 tại khu dân cư nơi chị N và anh K sống cũng thể hiện giữa chị N và anh K xảy ra mâu thuẫn, anh K đã chuyển đi khỏi nhà chị N nhưng cụ thể đi đâu khu dân cư không nắm rõ. Như vậy, có thể khẳng định vợ chồng chị N và anh K có mâu thuẫn. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ vì cuộc sống chung giữa chị N và anh K không có hạnh phúc, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xử cho chị N được ly hôn anh K là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Chị N trình bày vợ chồng có 01 con chung là cháu Ngô Kim N1 – Sinh ngày 01/4/2010, hiện nay cháu N1 đang ở với mẹ. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chị N xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu xin được nuôi con của chị N là chính đáng, vì từ thời gian vợ chồng mâu thuẫn chị Nt luôn là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, mặt khác anh K đi vắng xa nhà đã lâu không về thăm và có trách nhiệm với con chung. Vì vậy cần giao cháu Ngô Kim N1 – Sinh ngày 01/4/2010 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị N không yêu cầu.
- Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Vì anh K vắng mặt không có quan điểm và chị N xác định vợ chồng không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn,
quyÕt ®Þnh:
Căn cứ vào: Các Điều 51, 56, 58, 81,82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Xử: Cho chị Bùi Thị Minh N được ly hôn với anh Ngô Minh K.
2. VÒ con chung: Giao cho chị Bùi Thị Minh N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu cháu Ngô Kim N1 – Sinh ngày 01/4/2010. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị N không yêu cầu.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
3. VÒ tµi s¶n chung, c«ng nî chung, công sức đóng góp: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Bùi Thị Minh N phải chịu 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị N đã nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) t¹i biªn lai thu tiÒn t¹m øng ¸n phÝ sè AA/2019/0000154 ngµy 21/5/2019 t¹i Chi cục dân sự thành phố Việt Trì.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; - Chi cục Thi hành án TP Việt Trì; - UBND p.T; - Các đương sự; - Lưu HS- VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Thanh Huyền |