- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hương xin ly hôn anh Hiền"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Điểm 1.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TAND HUYỆN THIỆU HOÁ TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| *** Bản án số: 36/2019/HNGĐ-ST Ngày: 28/11/2019. V/v:"Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HOÁ,TỈNH THANH HOÁ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán, chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Hà
Hội hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Nhân và ông Lê Dũng Tấn
Thư ký phiên toà: Bà Phùng Thị Tố Loan - Thư ký tßa ¸n nhân dân huyện
ThiÖu Ho¸.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Thiệu Hóa, Tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa : bà Hoàng Thị Minh - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ThiÖu Ho¸ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 94/2019/TLST-HNGĐ ngày 18/6/2019 về việc "Tranh chấp hôn nhân và gia đình", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/QĐST-HNGĐ ngày 14/11/2019 giữa các đương sự:
N đơn: Chị Nguyễn Thị H - Sinh năm 1999 Nơi đăng ký HKTT: Thôn N Thịnh, Xã Thiệu N, Huyện Thiệu Hóa Nơi ở hiện nay: Thôn Vĩnh Điện, Xã Thiệu P, Huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa
Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến H -Sinh năm 1996 Địa chỉ: Thôn N Thịnh, Xã Thiệu N, Huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 02 tháng 7 năm 2019, N đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Tiến H kết hôn với nhau vào ngày 9/5/2018 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, cưới hỏi theo phong tục tập quán địa pH, đăng ký kết hôn tại UBND xã Thiệu N, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh Pc được khoảng 9 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. N nhân là do tình tính vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.
Về con chung: vợ chồng chưa có con chung.
Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Nguyễn Tiến H, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H đồng thời thực hiện tất cả các bước tố tụng theo qui định của pháp luật đảm bảo quyền cho anh H nhưng anh H không đến Tòa án để giải quyết vụ án, vì vậy không ghi nhận được quan điểm của anh H.
Tại biên bản xá minh tình trạng hôn nhân của chị H anh H được lập ngày 29 tháng 10 năm 2019, bố mẹ anh H là ông Nguyễn Tiến Hảo, bà Lê Thị Xen và đại diện Chính quyền địa pH đã cung cấp thông tin: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Tiến H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, cưới hỏi theo phong tục tập quán đại pH, đăng ký kết hôn ngày 02/5/2018 tại UBND xã Thiệu N, Huyện Thiệu Hóa. Sau khi cưới vợ chồng anh H, chị H sống chung, ăn chung cùng với bố mẹ chồng là ông Hảo, bà Xen. Hai vợ chồng chị H, anh H xảy ra mâu thuẫn, chị H bỏ về từ đầu năm 2019, hai bên gia đình cũng có gặp gỡ khuyên bảo nhiều lần nhưng anh chị không hàn gắn được tình cảm. Việc chị H làm đơn ly hôn, anh H có biết, anh H đã nhận được tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án.
Do nhiều lần đến Tòa án để giải quyết nhưng anh Nguyễn Tiến H đều vắng mặt không giải quyết được, hơn nữa do điều kiện công tác nên chị H không tham gia tố tụng tại phiên tòa được nên có đơn xin xử vắng mặt. N đơn giữ N yêu cầu khởi kiện và không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan toàn diện các chứng cứ, nghe ý kiến của đai diện VKS Thiệu Hóa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tiến H. Anh H có nơi cư trú hiện tại tại Thôn N Thịnh, xã Thiệu N, Huyện Thiệu Hóa, Tỉnh Thanh Hóa , nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luât tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện Thiệu Hóa, Tỉnh Thanh Hóa.
Chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Tiến H đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các thông báo yêu cầu anh có mặt tại Tòa án để thực hiện các bước tố tụng theo qui định của pháp luật, đảm bảo quyền của anh H theo luật định nhưng anh H đều vắng mặt. Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Tiến H. Anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do .
Căn cứ điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Tiến H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới hỏi theo phong tục tập quán địa pH, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo hộ.
Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh Pc được khoảng 9 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, sống ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Tiến H.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H thì thấy rằng:
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập cả hai chị đến Tòa án làm việc để hòa giải vợ chồng đoàn tụ cùng nhay xây dựng hạnh Pc gia đình, nhưng anh Nguyễn Tiến H không đến Tòa án để giải quyết vụ án bỏ mặc chị H muốn làm gì thì làm, chứng tỏ anh H không có trách nhiệm với tổ ấm gia đình, không có thiện chí hòa giải. Hiện tại anh chị đã sống ly thân nhau, mỗi người một nơi không ai quan tâm ai nữa, đời sống chung không còn. Điều nay cho thấy tình cảm vợ chồng giữa anh chị đã rạn nứt không còn hạnh Pc, chứng tỏ tình cảm vợ chồng thực sự đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được có kéo dài cuộc hôn nhân giữa chị và anh cũng chỉ trên danh nghĩa mà thôi. Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, trong bản tự khai cũng như trong đơn xin xét xử vắng mặt chị H tỏ rõ quan điểm xin được ly hôn anh Nguyễn Tiến H, vì vậy áp dụng điều 51, điều 56 Luật hôn nhân gia đình giải quyét cho chị H được ly hôn anh H là phù hợp.
-Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung, nên không xét.
-Về tài sản: Chị H không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xét.
Anh Nguyễn Tiến H có quyền khởi kiện giải quyết về tài sản khi có yêu cầu và sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác.
- Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.
Từ những lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Điểm 1.1, tiểu mục 1, Mục II phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiên của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Tiến H.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Tiến H chưa có con chung, không yêu cầu nên miễn xét.
Về tài sản: - Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Anh Nguyễn Tiến H được quyền khởi kiện đề nghị giải quuyết về tài sản khi có yêu cầu.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ ( ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số AA/2017/0005507 ngày 18/6/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thiệu Hóa, được trừ vào án phí.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành theo quy định tại điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm theo trình tự bút lục. Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Tiến H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKS Thiệu Hoá - Chi cục thi hành án Thiệu Hoá -TAND Tỉnh Thanh Hóa - UBND xã nơi ĐS ĐKKH - Lưu hồ sơ vụ án | T/M. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán Lê Văn Hà |