- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 36 /2018/HSST. Ngày: 16-01-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Văn Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân nhân:
1. Bà Trương Thị Thủy
2. Ông Hà Ngọc Phương
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Quốc - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2017/HSST ngày 22 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Quàng Văn H; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1981 tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản H, xã CC, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn L, sinh năm 1959 và bà Lò Thị Ch, sinh năm 1961; Bị cáo có vợ: Lò Thị Ph, sinh năm: 1981 và 02 con, con lớn nhất: 13 tuổi, con nhỏ nhất 11 tuổi; tiền án, tiền sự: Không, bị bắt tạm giam ngày 24/10/2017, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 24/10/2017, Quàng Văn H đón xe buýt đi từ nhà ở Bản H - xã CC - Thành phố Sơn La lên bản Th - xã TM - TC, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng. Khi H đến ngã ba bản NQ - Thôm Mòn thì H xuống xe đi bộ vào trong Bản Th - TM, thì gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái (H không biết tên tuổi và địa chỉ cư trú) 01 (một) gói Hêrôin gói bằng nilon màu hồng với giá 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được Hêrôin H cầm Hêrôin trên tay phải rồi đi bộ ra đường Quốc lộ 6A để đón xe buýt đi về. Khi H về đến khu vực bản TH - xã MN - TC – Sơn La thì H xuống xe và đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác Ban Công an xã MN - TC - Sơn La yêu cầu kiểm tra ma túy và phát hiện gói Hêrôin mà H đang cầm trên tay phải. Tổ công tác đã đưa H về trụ sở UBND xã MN - TC để lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang. Sau đó Quàng Văn H cùng tang vật đã được dẫn giải về Công an huyện TC, tỉnh Sơn La xử lý theo quy định của pháp luật. ( BL 26 - 39 HS ).
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy màu hồng bên trong có chứa bột màu trắng nghi là Hêrôin (theo H khai là Hêrôin) ( BL 01 - 02 HS ).
Hồi 15 giờ 20 phút ngày 24/10/2017 Công an huyện TC, tỉnh Sơn La phối hợp với phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong cân tịnh số bột màu trắng thu giữ của Quàng Văn H và xác định được trọng lượng là 0,33 gam rút 0,06 gam ký hiệu H1 gửi phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La để giám định chất ma túy, còn lại 0,27 gam ký hiệu H2 nhập kho vật chứng ( BL 22 HS).
Tại kết luận giám định số 985/KLMT ngày 30/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu H1 là chất ma túy, loại chất Hêrôin, trọng lượng của mẫu vật gửi giám định là 0,06 gam. Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ được của Quàng Văn H là 0,33 gam loại chất Hêrôin. ( BL 25 HS ).
Tại bản cáo trạng số 03/KSĐT ngày 21/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La đề nghị truy tố bị can Quàng Văn H về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với Quàng Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Quàng Văn H mức án từ 12 đến 18 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 24/10/2017 ( là ngày bắt giữ bị cáo ).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS năm 1999.
Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
Tiêu hủy 0,27 gam (không phẩy hai bảy gam) chất bột Hêrôin ký hiệu H2 được niêm phong trong phong bì thư.
Bị cáo Quàng Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, lời khai, lời trình bày ý kiến của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án như: biên bản hỏi cung bị can; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ, niêm phong, mở niêm phong vật chứng của vụ án để lấy mẫu giám định; kết luận giám định.
Lời nói sau cùng của bị cáo Lò Văn H: Nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố, xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Nay bị cáo đã thực sự nhận ra lỗi lầm, bị cáo rất ân hận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sơm trở về hòa nhập với cộng đồng, bị cáo xin được miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với việc xét xử của Tòa án, hiện nay Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2015 và Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã có hiệu lực pháp luật. Nhưng hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra trước thời điểm BLHS năm 2015 có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét cử sẽ áp dụng đồng thời Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 2015 để xét sử đối với bị cáo.
Xét hành vi tàng trữ trái phép 0,33 gam loại chất Hêrôin của bị cáo Quàng Văn H nhằm mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bởi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 như quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC.
Tại Điều 194 BLHS 1999 quy định:
“ 1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Tại Điều 249 BLHS 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
………………………….
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
……………………………
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Theo Nghị quyết số số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 đối với bị cáo Quàng Văn H để xét xử theo hướng có lợi cho bị cáo, tạo cơ hội cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý và là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Do đó cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 có mức hình phạt từ 01 đến 05 năm để xét xử đối với bị cáo Quàng Văn H.
Xét nhân thân bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn phạm tội nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong việc đấu tranh với tệ nạn ma túy. Cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tàng trữ lượng ma túy không lớn, mục đích chỉ để sử dụng cho bản thân; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 48 BLHS năm 1999.
Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS. Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án:
- Đối với 0,27 gam (không phẩy hai bảy gam) chất bột Hêrôin ký hiệu H2 là vật Nhà nước cấm lưu hành. Nên áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015, để tuyên tiêu hủy.
Đối với người đàn ông dân tộc Thái ở bản Th – TM là người Quàng Văn H khai bán cho H một lượng ma túy với giá 200.000đ vào ngày 24/10/2017 nhưng do H không biết họ tên và địa chỉ của người đàn ông này ở đâu do vậy không có căn cứ yêu cầu cơ quan điều tra xác minh làm rõ.
Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan tới quyền lợi của mình theo quy định tại các Điều 331, 333 BLTTHS năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo Quàng Văn H: 12 ( Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 24/10/2017 ( là ngày bắt giữ bị cáo ).
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
3. Xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
Tiêu hủy 0,27 gam (không phẩy hai bảy gam) chất bột Hêrôin ký hiệu H2 được niêm phong trong phong bì thư.
4. Án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Quàng Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các Điều 331, 333 BLTTHS năm 2015: Báo cho bị cáo Quàng Văn H; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND (02 bản); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La - CA huyện TC; - Chi cục THADS huyện TC; - UBND xã CC, TP Sơn La; - Bị cáo; - Lưu án văn; - Lưu:Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Văn Nghĩa |