- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào Páo L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thào Páo L phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2018/HS-ST Ngày 16-04-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Nga Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Việt
Ông Nguyễn Quang Ngọc Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy –Thư ký Tòa án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2018/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Th P L. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1974 tại huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Nơi đăng ký HKTT và nơi ở:bản Phiêng Phụ A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mông. Tôn giáo: Không Chức vụ ĐTĐP: Không. Trình độ học vấn: Không biết chữ. Con ông Thào Pá D và bà Hạng Thị V. Có vợ là Giàng Thị E. Có 5 người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2008. Tiền án: không, tiền sự: Không. Bị bắt giam từ ngày 13.12.2017. có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 11.12.2017, L đem theo 500.00 VNĐ đi bộ từ nhà để tìm mua ma túy về sử dụng, được khoảng 180m thì gặp 01 người đàn ông dân tộc Mông khoảng 30 tuổi không quen biết, L hỏi mua 500.000 VNĐ hêrôin và đưa tiền, người đàn ông cầm tiền rồi lấy từ trong túi xách ở tay ra 01 gói hêrôin được gói bằng mảnh ni lon mầu trắng và 01 gói được gói bằng ni lon mầu xanh bên trong chứa 03 viên hồng phiến đưa cho L. L cất 02 gói ma túy vào trong túi áo ngực rồi đi về nhà; L mở 02 gói ma túy vừa mua ra lấy 01 viên hồng phiến và 1 phần hêrôin để sử dụng bằng hình thức hít. Sử dụng xong L gói 2 gói lại như ban đầu rồi giấu vào túi áo ngực để sử dụng dần. Ngày 13.12.2017, L đang chuẩn bị sử dụng số ma túy còn lại thì tổ công tác công an huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng.
Ngày 13.12.2017, Công an huyện Mai Sơn ra quyết định trưng cầu giám định đối với số 26 đối với 02 gói ma túy trên.
Ngày 13.12.2017, cơ quan CSĐT Công an huyện Mai Sơn phối hợp với Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh xác định trọng lượng, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại đối với vật chứng vụ Thào Páo L. Kết quả:
+ Chất bột nén mầu trắng nghi hêrôin có trong 01 gói vật chứng thu giữ khi bắt quả tang đối với Thào Páo L có trọng lượng là 0,94 gam, trích rút 0,12 gam, ký hiệu M1 để giám định vật chứng còn lại là 0,82 gam ký hiệu T, được niêm phong bảo quản theo quy định
+ 02 viên mầu hồng, mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là ma túy tổng hợp Hồng phiến có trọng lượng là 0,187 gam trích rút toàn bộ, ký hiệu M2 làm mẫu giám định.
Ngày 20.12.2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 92/KLMT kết luận:
+ Mẫu vật gửi giám định ký hiệu M1 là chất ma túy; loại chất Heroine, trọng lượng của mẫu gửi giám định là M1= 0,12 gam
+ Mẫu gửi giám định ký hiệu M2 là chất ma túy, loại chất Methamphetamine, trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,187 gam.
+ Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ được là 0,94 gam, loại chất Heroine và 0,187 gam loại chất Methamphetamine.
Tại phiên toà bị cáo Thào Páo L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 26/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Thào Páo L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với bị cáo và đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Thào Páo L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 luật hình sự năm 2015, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999: xử phạt bị cáo Thào Páo L từ 24 đến 30 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu và tang vật còn lại sau khi trừ trích rút giám định; 01 bật lửa ga màu xanh nhãn hiệu Tanaka và 01 mảnh giấy bạc, 01 điếu tự chế bằng chai nhựa. Tạm giữ để bảo đảm thi hành án 01 điện thoại di động nhãn hiệu Poinf màu đen kèm 2 sim.
Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000VNĐ.
Bị cáo Thào Páo L tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiến nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi của bị cáo Thào Páo L thì thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận: Bị cáo là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 11.12.2017 bị cáo đã mua trái phép 500.000đ hê rô in mục đích tàng trữ để sử dụng. Ngày 13.12.2017, L bị tổ công tác công an huyện Mai Sơn bắt quả tang thu giữ 0,94 gam hê rô in và 0,187 gam methamphetamine.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 13/12/2017, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; phù hợp với kết luận giám định số 92/KLMT ngày 20/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo... và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thuẫn.
Như vậy đã có đầy đủ cơ sở kết luận bị cáo Thào Páo L đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Với việc tàng trữ 0,94gam hê rô in và 0,187 gam methamphetamine, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội trước thời điểm Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật. Nhưng Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tội Tàng trữ trái phép chất ma túy có hình phạt nhẹ hơn so với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999. Căn cứ điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về việc thi hành bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật tổ c hức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 khi lượng hình đối với bị cáo.
Điều luật quy định:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích
bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a,……………..
b,……………..
c) Hê rô in, cocain, Methamphetaminem, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam.
Do vậy, Viện kiểm sát truy tố và tòa án xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.
Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nhưng bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, dân sự. Biết hành vi tàng trữ ma túy là trái phép nhưng do nghiện ma túy bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý. Do đó xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết: Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo phần nào.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên toà thấy rằng, gia đình bị cáo không có tài sản gì có giá trị, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy. Không có thu nhập ổn định. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp vì nếu có áp dụng thì bị cáo cũng không có khả năng để thi hành.
Về vật chứng của vụ án:
Toàn bộ số ma túy còn lại sau khi trừ trích rút giám định là chất độc dược cấm lưu hành; 01 bật lửa ga màu xanh nhãn hiệu Tanaka và 01 mảnh giấy bạc, 01 điếu tự chế bằng chai nhựa là công cụ bị cáo sử dụng ma túy và là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Poinf màu đen kèm 2 sim thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên không tịch thu sung công quỹ Nhà nước mà cần tạm giữ để bảo đảm thi hành khoản án phí hình sự sơ thẩm.
Về nguồn gốc số ma túy Thào Páo L khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 30 tuổi (không quen biết) tại bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Quá trình mua bán không có ai biết và chứng kiến nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xác minh. Cần chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Thào Páo L phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
1. Áp dụng điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):
Xử phạt bị cáo Thào Páo L 24 (hai mươi bốn) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (13.12.2017)
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 0,82 gam hê rô in còn lại sau khi trừ trích rút giám định kèm vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu; 01 bật lửa ga màu xanh nhãn hiệu Tanaka và 01 mảnh giấy bạc; 01 điếu tự chế bằng chai nhựa có nhãn hiệu Cam ép, được gắn ống nhựa màu đen, có kích thước 5cm x 5cm x 30cm, đã qua sử dụng cũ.
Tạm giữ để bảo đảm thi hành án 01 điện thoại di động nhãn hiệu Poinf màu đen, kèm 2 sim thu giữ của bị cáo.
3. Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND Mai Sơn ; - Viện KSND tỉnh Sơn La ; - Nhà tạm giữ Công an huyện Mai Sơn ; - Công an huyện Mai Sơn ; - Chi cục THADS Mai Sơn ; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |