vanban.org

Bản án 36/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương Tuyên án 30/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm p, s khoản 1 Điều 51, Điều 38; điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2,3 Điều 106; điểm c khoản 2 Điều 290; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA LỘC - TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 36/2018/HS-ST
Ngày 30/5/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Yến.

Các Hội thẩm nhân dân :

- Ông Phạm Ngọc Tuân.

- Bà Phan Thị Yến.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc tham gia phiên toà: Ông Phạm Sỹ Phượng- Kiểm sát viên.

Ngày 30/5/2018, tại trụ sở UBND xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa lưu động xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2018/QĐXXST-HS ngày 18/5/2018 đối với bị cáo:

Trần Thị D, sinh năm 1963, tại xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú: Thôn H, xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không đi học; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Đình G và bà Vũ Thị G; chồng: Không xác định, có 01 con đã trưởng thành; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 16/01/2018 đến ngày 18/01/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo:

Bà Nguyễn Thị Sửu, Luật sư – Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hải Dương (Có mặt)

- Người làm chứng:

1. Anh Vũ Văn T, sinh năm 2000. Địa chỉ:Thôn T, xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Anh Phạm Văn T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn K, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Thị D là người khuyết tật bị liệt hai chân. Khoảng 17 giờ ngày 13/01/2018 có một nam thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ đến nhà D đặt vấn đề bán ma túy đá cho D, D đồng ý. D mua của nam thanh niên này 04 túi ma túy đá với giá 1.000.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Do chưa có tiền nên D thỏa thuận với nam thanh niên sẽ trả tiền sau. Khi mua được ma túy đá D đã sử dụng hết 01 túi, còn lại 03 túi D cất giấu ở dưới chăn 01 túi và cất giấu ở dưới đệm giường 02 túi.

Khoảng 21 giờ ngày 16/01/2018 khi D đang ở nhà thì có Vũ Văn T và Phạm Văn T đến nhà D mua ma túy đá về sử dụng. Tại đây T nói với D “Bán cho cháu một gói 300.000 đồng”. D đồng ý. T lấy số tiền 300.000 đồng đưa cho D. D cầm tiền và lấy 01 túi nilon, bên trong có chứa ma túy đá ở dưới chăn đưa cho T. Sau khi mua được ma túy đá, khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày T và T1 ra khu vực trước sân nhà D, dùng dụng cụ để sử dụng hết số ma túy đá vừa mua được của D thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra về tội phạm về ma túy – Công an huyện Gia Lộc phối hợp với Công an xã Y, huyện G phát hiện, bắt quả tang. D đã tự giác giao nộp số tiền 300.000 đồng là tiền D vừa bán ma túy đá cho T mà có và giao nộp 02 túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, D khai nhận đó là ma túy đá cất giấu mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Ngoài ra cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Gia Lộc còn thu giữ các dụng cụ mà T và T1 dùng vào việc sử dụng ma túy đá gồm: 01 túi ni lon nhỏ màu trắng; 01 bật lửa ga màu trắng; 01 lọ nhựa trên lắp chai có gắn 01 ống nhựa và 01 ống thủy tinh.

Tại Kết luận giám định số 157/KLGĐ ngày 19/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận:

- Chất tinh thể màu trắng, ghi thu của Trần Thị D, gửi đến giám định có trọng lượng là 0,273 gam là loại Methamphetamine

Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT: 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Hoàn lại đối tượng giám định: 0,238 gam Methamphetamine.

Quá trình điều tra và trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố về hành vi phạm tội đối với bị cáo, bị cáo khai nhận đã có hành vi bán cho T 01 túi ma túy đá, với số tiền 300.000 đồng. Khi T và T1 đang sử dụng số ma túy đá vừa mua được tại khu vực sân nhà D thì bị phát hiện bắt quả tang. D đã tự giác giao nộp 02 túi ma túy loại Methamphetamine, có tổng trọng lượng 0,273 gam, D cất giấu số Methamphetamine trên mục đích sử dụng và để bán kiếm lời. Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Cáo trạng số 32/VKS-GL ngày 07/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố bị cáo Trần Thị D về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Trần Thị D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy’’. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm p, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị D từ 24 tháng đến 26 tháng tù được trừ 02 ngày tạm giữ còn phải chấp hành 23 tháng 28 ngày đến 25 tháng 28 ngày tù, thời hạn chấp hành hình hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người khuyết tật nặng không có khả năng lao động nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,273 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì được niêm phong dán kín số 157/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương. Tịch thu số tiền 300.000đồng nộp ngân sách Nhà nước. Tịch thu cho tiêu hủy 01 túi ni lon nhỏ màu trắng; 01 bật lửa ga màu trắng; 01 lọ nhựa trên nắp chai có gắn 01 ống nhựa và 01 ống thủy tinh.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Do bị cáo Trần Thị D là người khuyết tật thuộc trường hợp được miễn không phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Luật sư Nguyễn Thị Sửu bào chữa cho bị cáo Trần Thị D trình bày: Nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo Trần Thị D. Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Mặt khác bị cáo Trần Thị D là người khuyết tật nặng không đi lại được, hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc hộ nghèo. Bị cáo không đi học nên trình độ nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế, phạm tội một phần do hoàn cảnh đưa đẩy. Đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với bị cáo Trần Thị D sau khi nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập của Tòa án đến tham gia tố tụng tại phiên tòa, do bị cáo là người khuyết tận nặng, sức khỏe không đảm bảo để ngồi trong thời gian HĐXX xét xử vụ án được nên bị cáo có đơn đề nghị xét xử xử vắng mặt, HĐXX xét thấy đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bị cáo là có căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xét xử vụ án vắng mặt bị cáo.

Lời khai của bị cáo Trần Thị D tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 16/01/2018, tại nhà ở của Trần Thị D ở thôn Hoàng Kim, xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Trần Thị D đã có hành vi bán trái phép 01 túi ma túy đá loại Methamphetamine cho Vũ Văn T và Phạm Văn T với số tiền 300.000đồng. Khi T và T1 đang sử dụng số ma túy đá vừa mua được tại sân nhà D thì bị phát hiện bắt quả tang, D đã tự giác giao nộp 02 túi ma túy đá loại Methamphetamine, có tổng trọng lượng 0,273 gam, D cất giấu mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi mua ma túy về cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Xác định Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc đối với bị cáo là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra căn cứ bản Kết luận giám định số 01 ngày 16/3/2018 của Phòng giám định pháp y – Bệnh biện đa khoa tỉnh Hải Dương kết luận: Bị cáo Trần Thị D là người khuyết tật mức độ nặng là bệnh hiểm nghèo nên HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy bị cáo tuy chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, người bào chữa cho bị cáo đề nghị cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Nhưng xét thấy bị cáo phạm tội nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn nếu không bắt bị cáo cách ly xã hội sẽ ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống đối với loại tội phạm về ma túy đang có chiều hưởng gia tăng trên địa bàn xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc nói riêng và địa bàn huyện Gia Lộc nói chung. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, HĐXX xét thấy cần nên cho bị cáo mức án bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội có hiệu quả.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Thị D là người khuyết tật nặng thuộc hộ nghèo nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,273 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định, Methamphetamine là chất Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy. Đối với số tiền 300.000đồng thu giữ của bị cáo là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Ngoài ra cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Gia Lộc còn thu giữ của các đối tượng Vũ Văn Thanh và Phạm Văn Trìu 01 túi ni lon nhỏ màu trắng; 01 bật lửa ga màu trắng; 01 lọ nhựa trên nắp chai có gắn 01 ống nhựa và 01 ống thủy tinh, tuy đây không phải là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo D, xong những công cụ này các đối tượng Thanh, Trìu dùng để sử dụng ma túy tại khu vực nhà ở của D sau khi mua ma túy của D, xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Trần Thị D phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Xong do bị cáo là người khuyết tật nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo D được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Trần Thị D khai mua của 01 nam thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ, quá trình điều tra không xác định được là ai nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Vũ Văn T và Phạm Văn T là người đã mua ma túy của Trần Thị D, hành vi của T và T1 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên ngày 09/3/2018 Công an huyện Gia Lộc đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Thanh và Trìu là hợp phù hợp.

Quá trình điều tra xác định, khi bán ma túy cho Vũ Văn T và Phạm Văn T, do D không đi lại được nằm trong nhà nên D không biết việc T và T1 sử dụng ma túy tại sân của gia đình nên không đặt ra việc xử lý đối với D về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm p, s khoản 1 Điều 51, Điều 38; điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2,3 Điều 106; điểm c khoản 2 Điều 290; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thị D 24 (Hai mươi bốn ) tháng tù được trừ 02 ngày tạm giữ (Từ ngày16/01/2018 đến ngày 18/01/2018) còn phải chấp hành 23 tháng 28 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

4.Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì được niêm phong dán kín số 157/PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương. Tịch số tiền 300.000đồng nộp ngân sách Nhà nước. Tịch thu cho tiêu hủy 01 túi ni lon nhỏ màu trắng; 01 bật lửa ga màu trắng; 01 lọ nhựa trên nắp chai có gắn 01 ống nhựa và 01 ống thủy tinh. (Toàn bộ số vật chứng tịch thu tiêu hủy, nộp ngân sách có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lộc).

5. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Thị D.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thị D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ