- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: 1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2018/HS-ST Ngày: 17/4/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM- THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-----------------
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đoàn Thành Nam
Các hội thẩm nhân dân:
1- Ông Lương Văn Thoại
2- Bà Nguyễn Thị Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm- Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 17 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự thụ lý số: 28/2018/TLST-HS ngày16/3/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2018/HSST - QĐ, ngày02/4/2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn T,sinh năm: 1987; Giới tính: Nam; ĐKNKTT và chỗở: Xóm Tr, xã Th, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bùi Văn Ng, sinh năm: 1961và con bà : Bùi Thị K, sinh năm: 1961; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con th ứ hai; Vợ, con: Chưa có; Danh chỉ bản số 0045, lập ngày 17/01/2018 tại Công an huyện Gia Lâm, Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 13/01/2018. Đến ngày 20/01/2018 bịáp dụng Lệnh tạm giam. Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặnngày 02/3/2018. Bị cáo Bùi Văn T đang bịáp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấmđi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/3/2018. (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 20 phút ngày 13/01/2018, tại khu vực đường Đặng Phúc Thông đoạn gần Chi cục Hải quan ga đường sắt thuộc xã Y, Gia Lâm, Hà Nội tổ công tác Cảnh sát cơ động C3D2 – PK20E – Công an Thành phố Hà Nội kiểm tra 02 đối tượng chở nhau trên xe máy nhãn hiệuHonda Wave RS, BKS:98N6 -1770 có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội về ma túy do Nguyễn Viết V – sinh năm: 1995; Trú tại: X, X, Yên Dũng, Bắc Giangđiều khiển xe chở Bùi Văn T. Qua kiểm tra, phát hiện Bùi Văn Tài đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã đưa các đối tượng trên cùng vật chứng về đồn Công an đồn Bắc Đuống thuộc Công an huyện Gia Lâm lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ của Bùi Văn T: 01 gói nhỏ bọc giấybạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 Chiếc điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Buk. Ngoài ra Cơ quan Công an còn lập biên bảntạm giữ của Nguyễn Viết V: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, mang BKS: 98N6 – 1770; Số khung: 008008; Số máy: 0610564; 01 Đăng kýxe máy số 002059 mang tên Nguyễn Thị Hồng L;Địa chỉ: X, X, Yên Dũng, Bắc Giang.
Tại kết luận giám định số 688/KLGĐ-PC54, ngày20/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói thu giữ của Bùi Văn T là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,144 gam”.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn T khai nhận: Vào khoảng 20 giờ 00 ngày 13/01/2018, Bùi Văn T bắt xe ôm của một nam thanh niên không quen biết (Sau khi bị cơ quan công an bắt giữ T biết nam thanh niên lái xe tên là Nguyễn Viết V) đi từ khu vực Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội đến khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh. Khi đi Tài nói với V là chở T đến Từ Sơn, Bắc Ninh để tìm thằng em lấy quầnáo và trả tiền đi xe ôm cho V số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìnđồng) tiền công cả đi lẫn về. Sau đó, V lái xe chở T đến khu vực Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Khi đến nơi T bảo V dừng xe ở ven đường rồi T đi bộ sang bên kia đường và vào một ngõ nhỏ, tại đây T có mua được 01 (một) gói ma túy với giá 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn) đồng qua khe cửa của 01 ngôi nhà trong ngõ. Sau khi mua được ma túy,T cất gói ma túyvào túi quần bên phải phía trước rồi quay lại chỗ V đợi và ra về. Khi V chở T về đến khu vực đường Đặng Phúc Thông, xã Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội thì bị tổ công tác Cảnh sát cơ động C3D2 – PK20E – Công an Thành phố Hà Nội yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểmtra lực lượng Công an phát hiện, thu giữ trong túi quần bên phải phía trước T đang mặc có 01 (một) gói nhỏ bọc giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Bùi Văn T khai nhận với lực lượng Công an gói nhỏ trên là ma túy Heroine của T mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó, lực lượng Công an đã đưa T, V cùng tang vật về trụ sở để làm việc.
Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Viết V khai nhận: Bản thân V làm nghề lái xe ôm trên khu vực địa bàn TP. Hà Nội. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 13/01/2018 khi V đang ở ngã tư Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội thì có một nam thanh niên thuê V chở đến khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh (Sau khi bị Cơ quan Công an bắt giữ V biết nam thanh niên thuê V chở tên là Bùi Văn T). Khi đi T nói với V là “chở anh đến Từ Sơn, Bắc Ninh để tìm thằng em lấy quần áo” và trả cho V số tiền là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền công cả đi lẫn về. Sau đó V lái xe chở T đến khu vực Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Khi đến nơi T bảo V dừng xe ở ven đường rồi T đi bộ sang bên kia đường vào một ngõ nhỏ, khoảng 03 phút sau T quay lại chỗ V đợi và đi về. Khi V chở Tài về đến khu vực Đặng Phúc Thông, xã Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội thì bị lực lượng Công an dừng xe kiểm tra.Quá trình kiểm tra Nguyễn Viết V, lực lượng Công an không phát hiện thu giữ gì. Quá trình kiểm tra người Bùi Văn T, lực lượng Công an thu giữ trong túi quần bên phải phía trước T đang mặc có 01 (một) gói nhỏ bọc giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Bùi Văn T khai nhận với lực lượng Công an gói nhỏ trên là ma túy Heroine của T mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó, lực lượng Công an đã đưa T, V cùng tang vật về trụ sở để làm việc. Việc T có ma túy trên người lúc nào, đi mua ma túy từ bao giờ V không biết và không có liên quan gì.
Bản thân T nhận thức rõ hành vi mua ma túy để sử dụng là sai, là vi phạm pháp luật nhưng do nghiện ma túy, cần mua ma túy để sử dụng nên vẫn cố tình thực hiện.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Bùi Văn T, do không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Tại Cơ quan điều tra Bùi Văn T đã khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.
Với nội dung trên bản cáo trạng số 28/CT - VKSGL, ngày 12/03/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm quyếtđịnhtruy tố bị cáo Bùi Văn T ra trước tòa với tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo Bùi Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại Cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép0,144 gam Heroine để sử dụng cho bản thân của mình là sai,vi phạm pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số28/CT-VKSGL, ngày 12/3/2018. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Tài phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249;điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn T mức án phạt tù từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b ắt thi hành án.(Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2018 đến ngày 02/03/2018)
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị tuyên:
Tịch thu vàtiêu hủy: 01(một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký xác nhận của bị cáo Bùi Văn T và Giám định viên bên trong là ma túy loại Heroine có trọng lượng 0,127 gam do phòng PC54- CATP. Hà Nội hoàn lại sau giám định (Sau khi đã lấy mẫu 0,017gam để giám định)
Trả lại tài sản cho bị cáo: 01 Chiếc điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Buk đã cũ, đã qua sử dụng. Đây là chiếc điện thoại của bị cáo T dùng để liên lạc hàng ngày, không liên quan gì đến hành vi phạm tội về ma túy.
Đối với chiếcxe máy nhãn hiệu Honda; Màu sơn: Đỏ BạcĐen; BKS: 98N6 – 1770; Số khung: 008008; Số máy: 0610564;01 Đăng ký xe máy số 002059 mang tên Nguyễn Thị Hồng L; Địa chỉ: Xuân Phú, Yên Dũng, Bắc Giang. Cơ quan Công an đã tạm giữ của Nguyễn Viết V: Qua xác minh làm rõ, chiếc xe máy trên là xe máy của chị Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1985, HKTT: Đan Hội, Lục Nam, Bắc Giang, mua và đứng tên chủ xe: Nguyễn Thị Hồng L. Khoảng tháng 9 năm 2013 chị L có cho em trai là Nguyễn Viết V mượn để sử dụng vào công việc hàng ngày. Khi chở bị cáo T đi sang khu vực Từ Sơn thìanh Nguyễn Viết V không biết, không liên quan đến việc bị cáo mua ma túy và tàng trữ trong người. Chị L đã có đơn đề nghị xin lại chiếc xe và 01 giấy đăng ký xe máy số 002059 mang tên Nguyễn Thị Hồng L để phục vụđi lại. Cơ quan CSĐT Công an huyện Gia Lâm đã tiến hành trao trả chiếc xe máy nói trên cho chị L theo quy định của pháp luật.
Bị cáo T sau khi nghe quan điểm luận tội của đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, bị cáo thừa nhận có tội và thừa nhận hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là0,144 gam Heroinecủa mình là sai,vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến người thân và gia đình. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ,khách quan, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn T: Tại phiên tòa bị cáo T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người liên quan, biên bản kiểm tra, biên bản khám xét, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã được Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 20 giờ 00 ngày 13/01/2018, Bùi Văn T thuê xe ôm của một nam thanh niên lái xe tên là Nguyễn Viết V đi từ khu vực Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội đến khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh. Khi đi T nói với V là chở anh đến Từ Sơn, Bắc Ninh để tìm thằng em lấy quần áo và trả cho V 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng tiền công cả đi lẫn về. Sau đó, V lái xe chở bị cáo T đến khu vực Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Khi đến nơi bị cáo T bảo V dừng xe ở ven đường rồi T đi bộ sang bên kia đường và vào một ngõ nhỏ, tại đây T có mua được 01 (một) gói ma túy với giá 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng qua khe cửa của một ngôi nhà trong ngõ. Sau khi mua được ma túy. T cất vào túi quần bên phải phía trước T mặc rồi quay lại chỗ V đợi và ra về. Khi V chở T về đến khu vực đường Đặng Phúc Thông, xã Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội thì bị lực lượng công an dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra người Bùi Văn T, lực lượng Công an phát hiện, thu giữ trong túi quần bên phải, phía trước bị cáo T đang mặc có 01 (một) gói nhỏ bọc giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Bùi Văn T khai nhận với lực lượng Công an gói nhỏ trên là ma túy Heroine của T mua về để sử dụng cho bản thân.
Vật chứng Cơ quan Công an lập biên bản thu giữ của bị cáo T:
01(một)gói nhỏ bọc giấybạcmàu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng.
01 Chiếcđiện thoại di độngmàu đen nhãn hiệu Bukđã cũ, đã qua sử dụng.
Tạm giữ của anh Nguyễn Viết V 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, mang BKS: 98N6 – 1770; Số khung: 008008; Số máy: 0610564; 01 Đăng ký xe máy số 002059 mang tên Nguyễn Thị Hồng L.
. Tại kết luận giám định số 688/KLGĐ-PC54, ngày20/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 góigiấy bạc thu giữ của Bùi Văn Tài là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,144 gam.
Heroine thuộc danh mục các chất ma túy mà Nhà nước cấm sử dụng.
. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:Hồi 22 giờ 20 phút ngày 13/12/2017, tại đường Đặng Phúc Thông đoạn gần Chi cục Hải quan ga đường sắt thuộc địa phận xã Yên Viên, Gia lâm, Hà Nội bị cáo Bùi Văn T đã có hànhvi tàng trữ trái phép 0,144 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác C3D2 – PK20E - CATP. Hà Nội kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Bùi Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. [5]. Khẳng định nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn T ra trước Tòa án theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Quan điểm của Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến bào chữa, tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
. Xét tính chất vụ án:Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự, trị an xã hội là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh và giành cho bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, nhân thân bị cáo Bùi Văn T không có tiềnán, tiền sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình để Cơ quan cảnh sát điều tra, điều tra kết thúc vụ án sớm, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu bị đưa ra truy tố, xét xử. Vì vậy, bị cáo T được hưởng nhữngtình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng, bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về Áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu vàtiêu hủy: 01(một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký xác nhận của bị cáo Bùi Văn T và Giám định viên bên trong là ma túy loại Heroine có trọng lượng 0,127 gam do phòng PC54- CATP. Hà Nội hoàn lại sau giám định (Sau khi đã lấy mẫu 0,017gam để giám định) Trả lại tài sản cho bị cáo: 01 Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Buk đã cũ, đã qua sử dụng. Đây là chiếc điện thoại của bị cáo Tài dùng để liên lạc hàng ngày, không liên quan gì đến hành vi phạm tội về ma túy nên trả lại cho bị cáo.
. Các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Bùi Văn T, theo bị cáo khai là một nam thanh niên không quen biết, do không xác định được nhân thân, địa chỉ của người đàn ông này.Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với anh Nguyễn Viết V khi được bị cáo Tài thuê xe chở bị cáo T đi sang Từ Sơn, Bắc Ninh ngày 13/01/2018không biết, không liên quan đến việc bị cáo T tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lâm không xem xét, xử lý là có căn cứ pháp luật.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda;Màu sơn Đỏ BạcĐen mang BKS: 98N6 – 1770; Số khung: 008008; Số máy: 061056401; 01 Đăng ký xe máy số 002059 mang tên Nguyễn Thị Hồng L; Địa chỉ: Xuân Phú, Yên Dũng, Bắc Giang.Cơ quan Công an đã tạm giữ của anh Nguyễn Viết V: Qua xác minh làm rõ, chiếc xe máy và Đăng ký xe máytrên là của chị Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1985, HKTT: Đan Hội, Lục Nam, Bắc Giang là chủ xe đứng tên trên Đăng ký xe máy số 002059. Khoảng tháng 9 năm 2013 chị L có cho em ruột là Nguyễn Viết V mượn để sử dụng vào công việc hàng ngày.Việc bị cáo T đi mua và tàng trữ ma túytrong người thì anh Nguyễn Viết V là người chở bị cáo không biết, không liên quan. Ngày 29/01/2017 chị Liên đã cóđơn đề nghị xin lại chiếc xe Honda, mang BKS: 98N6 – 1770và01 Đăng ký xe máyđểđi lại, ổnđịnh cuộc sống, đây là tài sản hợp pháp của chị L. Cơ quan CSĐT Công an huyện Gia Lâm đã tiến hành lập biên bản trao trả chiếc xe máy vàĐăng kýxe máy cho chị L làđúng quy định của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”. Do đó,bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện, là lao động tự do thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: 1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụngđiểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Xử phạt: Bùi Văn T 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.(Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2018 đến ngày 02/03/2018 là: 49 (Bốn mươi chín) ngày)
3. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
-Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký xác nhận của bị cáo Bùi Văn T và Giám định viên bên trong là ma túy loại Heroine có trọng lượng 0,127 gam do phòng PC54- CATP. Hà Nội hoàn lại sau giám định (Sau khi đã lấy mẫu 0,017gam để giám định) -Trả lại tài sản cho bị cáo T: 01 Chiếc điện thoại di động màuđen, nhãn hiệu Buk.
Số vật chứng, tài sản cótình trạng, đặcđiểmnhưnội dung được ghi trong biên bản bàn giao vật chứng, tài sản lập ngày15/3/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội.
4. Áp dụng Điều 136;Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án. Bản án gốc này có 09(Chín) trang, tại phòng nghị án, các thành viên trong Hội đồng xét xử đã tự mình đọc lại, công nhận đúng và cùng ký tên dưới đây
| Nơi nhận: - Bị cáo - Tòa án nhân dân TP. Hà Nội - UBND xã Thượng Cốc, Lạc Sơn, Hòa Bình(Thay cho thông báo kết quả xét xử) - Sở Tư pháp TP.Hà Nội - Công an, VKSND huyện Gia Lâm - THADS huyện Gia Lâm- - Lưu: hồ sơ vụ án; vp | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thành Nam |