- Tranh chấp gì? án hình sự — "Điểu H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Điểu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2018/HS-ST Ngày: 05-10-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
[
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Long Tỵ
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Đinh Quang Minh;
2 Ông Trương Hữu Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 10 năm 2018; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2018/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Điểu H, sinh năm 1984, tại Bình Dương. Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn V, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Stiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu N, sinh năm 1935 (chết) và bà Phạm Thị N1, sinh năm 1947; có vợ và 01 con (sinh năm 2007); tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại “có mặt”.
- Bị hại: Ông Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 1990 (chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại (Nguyễn Hoàng Q): Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1956 (cha ruột ông Q) và bà Phạm Thị L, sinh năm 1960 (mẹ ruột ông Q); cùng hộ khẩu thường trú: Khu phố G, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Dương. “có mặt”
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Trần Trọng U, sinh năm 1980; hộ khẩu thường trú: Số E, khu phố F, phường O, thị xã R, tỉnh Bình Dương. “có đơn xin xét xử vắng mặt”
2. Ông Trần Trọng U – Chủ Doanh nghiệp tư nhân I; địa chỉ trụ sở chính: Số E, khu phố F, phường O, thị xã R, tỉnh Bình Dương. “có đơn xin xét xử vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 00 phút, ngày 24/6/2018, bị cáo Điểu H điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số: 61C - 280.21, kéo theo rơ móoc biển số: 61R - 015.42 từ thị xã R, tỉnh Bình Dương đến xã M, huyện T, tỉnh Bình Dương để chở cát. Khi đi đến đoạn đường ĐT 744 hướng từ xã Z đến thị trấn D thuộc khu phố S, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Dương thì xe ô tô đầu kéo biển số: 61C - 280.21 hư động cơ nên bị cáo H điều khiển xe ô tô đầu kéo cùng rơ móoc biển số: 61R - 015.42 đỗ sát lề phải trên phần đường dành cho xe mô tô nhưng không có đèn báo hiệu, không đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết mà chỉ đặt nhiều nhánh cây để phía sau rơ móoc biển số: 61R - 015.42. Lúc này, bị cáo H điện thoại cho thợ sửa xe đến sửa, do không có phụ tùng thay thế nên thợ nói phải đợi đến ngày 25/6/2018 mới sửa chữa được.
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 24/6/2018, ông Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 1990; ngụ tại khu phố G, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Dương điều khiển xe mô tô biển số: 61H1 - 005.36 lưu thông trên đoạn đường ĐT 744 hướng từ xã Z đến thị trấn D chạy đến và đụng vào phía sau rơ móoc biển số: 61R-015.42. Hậu quả làm ông Nguyễn Hoàng Q chết tại hiện trường, xe mô tô và rơ móoc bị hư hỏng.
Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, hiện trường để lại các dấu vết có chiều hướng, kích thước như sau:
- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường nhựa thẳng, mặt đường bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, chiều rộng mặt đường là 15m được chia thành hai phần bằng nhau bởi vạch sơn liền đôi, mỗi bên phần đường là 07m50 được chia thành hai làn xe, làn xe mô tô là 03m90, làn xe ô tô là 03m90.
- Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
+ (1) Nhiều nhánh cây có kích thước 2m80 x 1m20 x 0m30;
+ (2) Xe mô tô 61H1 - 005.36;
+ (3) Vết máu kích thước 01m90 x 0m40;
+ (4) Nạn nhân Nguyễn Hoàng Q;
+ (5) Rơ móoc 61R - 015.42;
+ (6) Xe ô tô đầu kéo 61C - 280.21.
- Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Lấy trụ điện số 146 trong lề trái đường ĐT 744 hướng từ cầu X đi cầu Y làm điểm mốc chuẩn, lấy lề phải đường ĐT 744 hướng từ cầu X đi cầu Y làm mép đường làm chuẩn.
- Mô tả theo thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
+ Nạn nhân Nguyễn Hoàng Q (số thứ tự 4) chết tại hiện trường trong tư thế nằm sấp, đầu quay về hướng cầu X, chân phải duỗi thẳng, chân trái co, hai tay co về phía bên phải đầu. Đầu nạn nhân cách mép đường làm chuẩn là 01m70, gót chân phải nạn nhân cách mép đường làm chuẩn là 01m90.
+ Xe ô tô đầu kéo 61C - 280.21 (số thứ tự 6) kéo theo rơ móoc 61R - 015.42 (số thứ tự 5) dừng lại trên đường, đầu xe quay về hướng cầu Y. Trục trước bên phải ô tô đầu kéo (số thứ tự 6) cách mép đường làm chuẩn là 0m45, trục sau cùng bên phải ô tô đầu kéo (số thứ tự 6) cách mép đường làm chuẩn là 0m50. Trục sau cùng bên phải rơ móoc (số thứ tự 5) cách mép đường làm chuẩn là 0m40. Trục sau cùng bên trái rơ móoc (số thứ tự 5) cách đầu nạn nhân Nguyễn Hoàng Q (số thứ tự 4) là 02m20, cách gót chân phải nạn nhân Nguyễn Hoàng Q (số thứ tự 4) là 0m80.
+ Xe mô tô 61H1 - 005.36 (số thứ tự 2) không ngã, đầu xe quay về hướng cầu Y, bánh trước bị kẹt vào phía sau rơ móoc (số thứ tự 5). Trục trước cách mép đường làm chuẩn là 01m10, cách trục sau cùng bên phải rơ móoc (số thứ tự 5) là 0m70. Trục sau cách mép đường làm chuẩn là 01m00, cách trục sau cùng bên phải rơ móoc (số thứ tự 5) là 01m90, cách đầu nạn nhân Nguyễn Hoàng Q (số thứ tự 4) là 0m50.
+ Hiện trường còn có nhiều nhánh cây (số thứ tự 1) có kích thước 2m80 x 01m20 x 0m30 dùng làm báo hiệu xe bị hư hỏng. Tâm nhánh cây cách trục sau cùng bên phải rơ móoc (số thứ tự 5) là 08m80 và cách trục sau cùng bên trái rơ móoc (số thứ tự 5) là 08m70.
+ Từ trục trước bên trái đầu kéo (số thứ tự 6) đến điểm mốc làm chuẩn là 29m80. Từ trục sau cùng bên trái rơ móoc (số thứ tự 5) đến điểm mốc làm chuẩn là 23m10. Từ trục trước xe mô tô (số thứ tự 2) đến điểm mốc làm chuẩn là 23m50. Từ trục sau xe mô tô (số thứ tự 2) đến điểm mốc làm chuẩn là 23m00.
Khám nghiệm các dấu vết liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại trên xe ô tô đầu kéo biển số: 61C - 280.21, nhãn hiệu: HYUNDAI, màu sơn trắng, số khung: 017924, số máy: 059355 kéo theo rơ móoc biển số: 61R - 015.42, nhãn hiệu: HYD, số khung: 0003627:
- Bửng bên phải rơ móoc biển số: 61R - 015.42 dính máu;
- Bửng mở của rơ móoc biển số: 61R - 015.42 dính máu;
- Gãy điểm hàn cản sau của rơ móoc biển số: 61R - 015.42;
- Xây xát thanh cản sau rơ móoc biển số: 61R - 015.42.
Khám nghiệm các dấu vết liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại trên xe mô tô biển số 61H1 - 005.36, số khung: 615582, số máy: 1625597, nhãn hiệu WAVE , màu sơn: Xám:
- Bể vè chắn bùn trước;
- Bể toàn bộ đèn chiếu sáng và đèn chuyển hướng trước;
- Bể toàn bộ công tắc điều khiển;
- Bể hộp đo km/h;
- Bể yếm chắn gió bên phải;
- Bể ốp chụp giảm sốc trước bên phải;
- Cong chảng ba vô trong.
Kết luận giám định pháp y tử thi số 499/GĐPY ngày 28/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Hoàng Q là do đa chấn thương, chấn thương sọ não.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 08 tháng 8 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân huyện T kết luận: tổng trị giá tài sản thiệt hại đối với xe mô tô biển số: 61H1 - 005.36 là 1.341.000 đồng (một triệu ba trăm bốn mươi mốt ngàn đồng).
Kết luận giám định số 149/HPL-PC54 ngày 11/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Khoảng 08 (tám ml) máu lỏng của tử thi Nguyễn Hoàng Q có thành phần Ethanol, nồng độ: 29,31 mg/100mL.
Vật chứng liên quan đến vụ án được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng thu giữ gồm:
- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng FC số: 740089007850, họ và tên: Điểu H, sinh năm: 1984; nơi cư trú: Thị trấn V, huyện P, tỉnh Bình Dương do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/12/2017.
- 01 (một) xe ô tô đầu kéo biển số: 61C - 280.21, nhãn hiệu: HYUNDAI, màu sơn trắng, số khung: 017924, số máy: 059355 kéo theo rơ móoc biển số 61R - 015.42, nhãn hiệu: HYD, số khung: 0003627.
- 01 (một) xe mô tô biển số: 61H1 - 005.36, số khung: 615582, số máy: 1625597, nhãn hiệu WAVE, màu sơn: Xám. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Nguyễn Hoàng Q.
Về trách nhiệm dân sự:
Hàng thừa kế thứ nhất của bị hại Nguyễn Hoàng Q gồm: Cha tên Nguyễn Văn K, sinh năm 1956, mẹ tên Phạm Thị L, sinh năm 1960; cùng ngụ tại khu phố G, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Dương. Ngày 03/7/2018, ông K, bà L có đơn xin bãi nại và không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo H. Đối với số tiền 1.341.000 đồng tiền sửa chữa xe mô tô biển số: 61H1- 005.36, ông K, bà L không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Bị cáo H và chủ xe ông Trần Trọng U đã bồi thường chi phí mai táng cho gia đình bị hại Nguyễn Hoàng Q với số tiền 80.000.000 đồng. Gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo H cũng đã hoàn trả lại cho chủ xe ông Trần Trọng U số tiền 80.000.000 đồng, ông U không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSDT-HS ngày 30/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Điểu H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Điểu H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Điểu Hoàng từ 18 tháng đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng đến 40 tháng.
Về vật chứng:
- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số: 61H1- 005.36, số khung: 615582, số máy: 1625597, nhãn hiệu WAVE, màu sơn: Xám. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bị hại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trao trả cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn khế.
- Đối với 01 (một) xe ô tô đầu kéo biển số: 61C - 280.21, nhãn hiệu: HYUNDAI, màu sơn trắng, số khung: 017924, số máy: 059355 kéo theo rơ móoc biển số: 61R - 015.42, nhãn hiệu: HYD, số khung: 0003627. Xét đây là tài sản hợp pháp của ông Trần Trọng U nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trả lại xe ô tô nêu trên cho ông Trần Trọng U.
- Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC số: 740089007850 mang tên Điểu H do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/12/2017. Xét đây là giấy tờ hợp pháp của bị cáo đề nghị tuyên trả cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông K, bà L không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Trọng U không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận, khoảng 04 giờ 00 phút, ngày 24/6/2018, bị cáo điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số: 61C - 280.21 kéo theo rơ móoc biển số: 61R - 015.42 từ thị xã R, tỉnh Bình Dương đến xã M, huyện T, tỉnh Bình Dương để chở cát khi đến đoạn đường ĐT 744 hướng từ xã Z đến thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Dương thì xe bị hư động cơ nên bị cáo cho xe đỗ trên phần đường dành cho xe mô tô nhưng không có đèn báo hiệu, không đặt biển báo nguy hiểm phía trước và sau xe mà chỉ đặt nhiều nhánh cây ở phía sau đầu xe rơ móoc rồi điện thoại cho thợ sửa xe đến sửa. Đến khoảng 20 giờ 00 phút, cùng ngày ông Nguyễn Hoàng Q điều khiển xe mô tô biển số: 61H - 005.63 đụng vào phía sau rơ móoc và chết tại hiện trường.
Lời khai nhận của bị cáo H tại phiên tòa phù hợp và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bản Cáo trạng số 28/CT-VKSDT-HS ngày 30/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Điểu H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử nhận thấy, trên đoạn đường xảy ra tai nạn mặc dù có đèn đường chiếu sáng nhưng bị cáo không dùng đèn báo hiệu, không có biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và sau xe hoặc một dụng cụ phương tiện nào để thông báo cho người tham gia giao thông trên đường biết có vật cản phía trước mà chỉ đặt nhiều nhánh cây để ở phía sau rơ móoc biển số: 61R - 015.42 là vi phạm điểm a, b khoản 3 Điều 18 của Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả của hành vi đó đã gây ra cái chết cho bị hại Nguyễn Hoàng Q. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi vô ý. Ngoài ra, tại kết luận giám định số 149/HPL-PC54 ngày 11/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Trong máu của bị hại Nguyễn Hoàng Q cũng có thành phần Ethanol, nồng độ 29,31mg/100Ml, do đó bị hại cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông là có nồng độ cồn và không quan sát khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông nên đã đụng vào đuôi xe rơ móoc biển số: 61R
- 015.42 và chết tại hiện trường.
Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm về xâm phạm trật tự công cộng nên cần xử lý bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra nhằm có điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt, cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử nhận
thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo cùng chủ sở hữu xe ô tô đã chủ động và tự
nguyện bồi thường chi phí mai táng cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000
đồng; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại và không yêu cầu xử lý
hình sự đối với bị cáo và tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có bà ngoại ruột được Nhà nước truy tặng
danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng, có 02 cậu ruột là liệt sĩ, bị cáo có con
nhỏ, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhiều
tình tiết giảm nhẹ. Do đó, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Nhà
nước nên Hội đồng xét xử cần căn cứ quy định tại các điểm b, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có khả năng tự cải tạo nên việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết. Xét thấy, bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về án treo nên cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về vật chứng:
- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số: 61H1 - 005.36, số khung: 615582, số máy: 1625597, nhãn hiệu WAVE, màu sơn: Xám. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bị hại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trao trả cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn K theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu tài sản ngày 14 tháng 8 năm 2018 là phù hợp.
- Đối với 01 (một) xe ô tô đầu kéo biển số: 61C - 280.21, nhãn hiệu: HYUNDAI, màu sơn trắng, số khung: 017924, số máy: 059355 kéo theo rơ móoc biển số: 61R - 015.42, nhãn hiệu: HYD, số khung: 0003627. Xét đây là tài sản hợp pháp của ông Trần Trọng U nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trả lại xe ô tô nêu trên cho ông Trần Trọng U theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu tài sản ngày 04 tháng 7 năm 2018 là phù hợp.
- Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC số: 740089007850 mang tên Điểu H do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/12/2017. Xét đây là giấy tờ hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông K, bà L không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Trọng U không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Điểu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Điểu H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 05/10/2018).
Giao bị cáo Điểu H cho Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện P, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Điểu H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
3. Về vật chứng: Giao trả cho bị cáo Điểu H: 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC số: 740089007850 mang tên Điểu H do Sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/12/2017 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 8 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Bình Dương).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Điểu H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - Công an H. Dầu Tiếng; - Chi cục THADS H. T; - PV 27-Công an tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - UBND thị trấn V, huyện P, tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Long Tỵ |