vanban.org

Bản án 36/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ chung sống giữa ông Tiêu Văn T và bà Trương Ngọc L là vợ chồng.

Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ chung sống giữa ông Tiêu Văn T và bà Trương Ngọc L là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2018/HNGĐ-ST.
Ngày: 30/7/2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chiêm Ngọc Linh.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Huy Tùng.

2/ Bà Hà Ngân Kim Tới.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Qual - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thức - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30/7/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 122/2018/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 6 năm 2018, về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26a/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 16/7/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Tiêu Văn T, sinh năm 1976 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Bà Trương Ngọc L, sinh năm 1982 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã Th, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

– Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/5/2018 cũng như quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Tiêu Văn T trình bày: Vào năm 2013 ông T và bà Trương Ngọc L tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến cuối năm 2017 dù không có mâu thuẫn gì nhưng bà L lại bỏ về nhà cha mẹ ruột ở tại ấp T, xã Th, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng. Ông T đã cho bà L khoảng thời gian để bà suy nghĩ lại quay về với gia đình nhưng bà L không đồng ý. Vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2017 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống với nhau được nên ông T yêu cầu được ly hôn.

Thời gian chung sống ông T và bà L không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

– Tại Biên bản lấy lời khai ngày 13/7/2018 bà Trương Ngọc L trình bày: bà L thống nhất với lời trình bày của ông T về thời gian chung sống, không đăng ký kết hôn, không có con chung, không có tài sản chung và nợ chung. Nay ông T yêu cầu ly hôn thì bà cũng đồng ý.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, đương sự chấp hành đúng pháp luật, đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ chung sống giữa ông T và bà L là vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Trương Ngọc L vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Trương Ngọc L.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông Tiêu Văn T, nhận thấy ông T và bà L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2013, có tổ chức lễ cưới nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội, về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003. Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng. Ông T và bà L chung sống với nhau từ năm 2013 nhưng đến nay không đăng ký kết hôn, nên theo quy định nêu trên pháp luật không công nhận ông T và bà L là vợ chồng.

Về con chung: Thời gian chung sống ông T và bà L không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Ông Tiêu Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ chung sống giữa ông Tiêu Văn T và bà Trương Ngọc L là vợ chồng.

- Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Tiêu Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0009629, ngày 14/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Bà Trương Ngọc L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ