- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị H và anh P"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 36/2018/HNGĐ-ST Ngày: 30/10/2018. V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Cảnh.
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Võ Hồng Hạnh.
+ Bà Thái Thị Thủy Tiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 226/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số: 54/2018/QĐST-HNGĐ ngày 18/10/2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị H, sinh năm: 1993.
Địa chỉ: Tổ 7, ấp 9, xã R, huyện M, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Trần Thế P, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Tổ 7, ấp 9, xã R, huyện M, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
+ Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/7/2018, bản tự khai ngày 07/8/2018 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hồ Thị H trình bày: Chị và anh P xây dựng gia đình với nhau từ tháng 6 năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Sông Ray, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Đến tháng 11 năm 2016, thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, bất hòa trong cách nuôi dạy con chung nên thường hay gây gỗ, cải vã từ đó cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, chị và anh P đã sống ly thân nhau từ tháng 10 năm 2017 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, vợ chồng có bàn bạc đoàn tụ nhưng không thể tiếp tục chung sống. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn anh P.
Về con chung: Có 01 cháu Trần Bảo N, sinh ngày: 12/10/2016.
Hiện chị đang nuôi dưỡng. Nếu ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
+ Tại bản tự khai ngày 07/8/2018 và tại phiên tòa bị đơn anh Trần Thế P trình bày: Anh và chị H xây dựng gia đình với nhau từ tháng 6 năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Sông Ray, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Đến tháng 11 năm 2016, thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và cách nuôi dạy con không hợp nhau dẫn đến vợ chồng thường hay gây gỗ, cải vã từ đó cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, anh và chị H đã sống ly thân nhau từ tháng 10 năm 2017 cho đến nay, thời gian ly thân vợ chồng mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai, vợ chồng có bàn bạc đoàn tụ nhưng không chung sống được. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H yêu cầu ly hôn anh đồng ý.
Về con chung: Có 01 cháu Trần Bảo N, sinh ngày: 12/10/2016.
Hiện đang sống với chị H. Nếu ly hôn anh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về nội dung: Chị H và anh P kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Sông Ray, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 06/6/2016, là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, chị H và anh P chung sống đến tháng 11 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 10/2017 cho đến nay. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và không thống nhất với nhau cách nuôi dạy con nên thường hay gây gỗ, cải vã.
Xét điều kiện để chị H và anh P đoàn tụ chung sống với nhau là không có, tình trạng của vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Tại phiên tòa anh P, chị H đều xác định không thể tiếp tục chung sống xây dựng hạnh phúc gia đình, chị H yêu cầu ly hôn, anh P đồng ý thuận tình ly hôn là phù hợp Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên công nhận.
Về con chung: Có 01 cháu Trần Bảo N, sinh ngày: 12/10/2016.
Tại phiên tòa, chị H, anh P đều tranh chấp yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trần Bảo N, không thống nhất giao con cho ai nuôi dưỡng.
Xét thấy, hiện tại chị H, anh Pđều có nơi ở và có nghề nghiệp, mức thu nhập ổn định. Đối với chị H trong thời gian qua, chị H đảm bảo việc nuôi con tốt, cháu Trần Bảo N, sinh ngày: 12/10/2016 (dưới 36 tháng tuổi). Theo quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Từ phân tích nêu trên, chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị H, giao con chung Trần Bảo N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Không chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của anh Trần Thế Phương.
Về cấp dưỡng: Chị H nuôi con không yêu cầu anh P cấp dưỡng nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có và không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát là phù hợp chứng cứ đã thu thập, quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1- Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hồ Thị H và anh Trần Thế P.
2- Về nuôi con chung: Giao con chung Trần Bảo N, sinh ngày: 12/10/2016 cho chị Hồ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Tạm thời anh P không phải cấp dưỡng nuôi con, anh P được quyền đến thăm nom, chăm sóc con không ai được cản trở. Khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có và không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.
4- Về án phí: Chị Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai số 004359 ngày 16/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ, chị Hạnh đã nộp xong.
5- Quyền kháng cáo: Chị H, anh P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND H. Cẩm Mỹ; - Chi cụcTHADS H.Cẩm Mỹ; - UBND xã Sông Ray (81/2016); - Đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Cảnh |