vanban.org

Bản án 36/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty V về việc yêu cầu chị Lê Thị Kim M trả số tiền vay còn nợ.

[2] Buộc chị Lê Thị Kim M có trách nhiệm thanh toán cho Công ty V số nợ gốc và tiền nợ lãi tới hạn là 27.839.196 đồng (Hai mươi bảy triệu tám trăm ba mươi chín nghìn một trăm chín mươi sáu đồng). [3] Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Cty tài chính V - Lê Thị Kim M tranh chấp hợp đồng vay"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty V về việc yêu cầu chị Lê Thị Kim M trả số tiền vay còn nợ.
  • Căn cứ chính? Điều 688 Bộ luật Dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN GIUỘC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2018/DS-ST
Ngày: 05-6-2018
V/v tranh chấp hợp đồng vay

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Chí

Bà Đặng Thị Mỹ Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2017/TLST–DS, ngày 18/7/2017 về tranh chấp hợp đồng vay theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2018/QĐXX-ST ngày 17 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (tên công ty viết tắt VPB FC); địa chỉ trụ sở: Tầng 2, tòa nhà Ree Tower, số 9, đường B phường 12, Quận 4, Thành phố M.

Người đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Lô Bằng G– Chủ tịch Hội đồng thành viên

Người đại diện theo ủy quyền của ông Giang: Ông Lê Hiền T – Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý kiêm quản lý pháp chế cho phòng an ninh và kiểm soát gian lận – trung tâm thu hồi nợ - khối tín dụng tiêu dùng. (Văn bản ủy quyền số: 14/UQ-QTRR.17 ngày 22/3/2017)

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Nguyễn Ngọc Tài H, sinh năm 1995, địa chỉ: E2/36b, đường T, thị trấn T, huyện C, Thành phố M (Văn bản ủy quyền số: 781/UQTA-QTRR.18 ngày 20/3/2018)

Bị đơn: Chị Lê Thị Kim M, sinh năm 1990 (Vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phan Hoàng L, sinh năm 1988 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: địa chỉ: tổ 6, ấp 3, xã H, huyện G, tỉnh A.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/6/2017 và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc Tài H trình bày:

Ngày 08/01/2015, chị Lê Thị Kim M có ký kết với Công ty V đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 20150119-200001-0004 để vay số tiền 23.210.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 3,75 %/tháng, thời hạn vay là 36 tháng, mục đích vay tiêu dùng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, chị M có trách nhiệm thanh toán cho VPB FC số tiền 43.490.000 đồng (bao gồm tiền gốc và tiền lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng, 35 tháng đầu thì mỗi tháng chị M phải trả số tiền là 1.186.000đồng, tháng cuối cùng phải trả là 1.980.000 đồng. Kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 01/3/2015. Trong thời gian thực hiện hợp đồng thì chị M đã thanh toán được được 9 kì với tổng số tiền là 14.132.000 đồng. Tuy nhiên, từ ngày 14/12/2016 đến nay, chị M không thanh toán bất cứ khoản nào cho VPB FC mặc dù đã được VPB FC nhắc nhở nhiều lần. Hợp đồng đến nay đã hết hạn, do đó VPB FC khởi kiện yêu cầu chị Lê Thị Kim M trả số tiền nợ gốc là 16.757.411 đồng và tiền nợ lãi là 11.081785 đồng, tổng số tiền là 27.839.196 đồng, yêu cầu thanh toán một lần ngay khi bản bản có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, yêu cầu chị M phải trả tiền lãi trong thời gian chưa thi hành án xong theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Do VPB FC chỉ ký hợp đồng với chị M nên chỉ yêu cầu chị M trả số tiền còn nợ, không yêu cầu anh L cùng trả.

Tại các biên bản của Tòa án, bị đơn chị Lê Thị Kim M trình bày:

Chị Lê Thị Kim M xác nhận ngày 08/01/2015, chị M có ký đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 20150119-200001-0004 để vay số tiền 23.210.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 3,75 %/tháng, thời hạn vay là 36 tháng, mục đích vay tiêu dùng với Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì chị M có trách nhiệm trả số tiền 43.490.000 đồng bao gồm tiền vốn và tiền lãi trong thời gian 36 tháng. Tuy nhiên, quá trình thực hiện thì chị M chỉ thanh toán cho VPB FC được số tiền là 14.132.000 đồng. Từ ngày 14/12/2016 đến nay do công việc không thuận lợi nên chị chưa thanh toán khoản tiền nào khác cho công ty.

Nay, Công ty V khởi kiện yêu cầu chị M trả số tiền nợ gốc là 16.757.411 đồng và tiền nợ lãi là 11.081785 đồng, tổng số tiền là 27.839.196 đồng thì chị cũng đồng ý. Tuy nhiên, chị M xin được trả dần do hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Tại các biên bản của Tòa án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phan Hoàng L trình bày:

Anh L là chồng của chị M, khi chị M vay tiền của công ty thì anh có biết. Hiện nay, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên xin công ty cho chị M được trả dần.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng là đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Thẩm phán chưa đảm bảo về thời hạn giải quyết vụ án. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Quan hệ pháp luật tranh chấp, thủ tục tố tụng, pháp luật áp dụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay còn nợ nên căn cứ vào Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng vay. Bị đơn chị Lê Thị Kim M cư trú ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chị M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh L vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt giấy báo tham gia phiên tòa 02 lần nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228 Bộ tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt chị Lê Thị Kim M và anh Phan Hoàng L. Xét thời gian thực hiện hợp đồng của các bên từ ngày 08/01/2015 đến hết ngày 08/01/2018 nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng lời trình bày của bị đơn chị Lê Thị Kim M, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết hai bên đã có ý kiến thống nhất là vào ngày 08/01/2015, giữa chị Lê Thị Kim M có ký kết với Công ty V đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 20150119-200001-0004 để chị M vay số tiền 23.210.000 đồng, thỏa thuận lãi suất vay 3,75 %/tháng, thời hạn vay là 36 tháng, mục đích vay tiêu dùng. Số tiền chị M phải trả theo thỏa thuận là 43.490.000 đồng, trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng theo Bảng kế hoạch trả nợ, 35 tháng đầu thì mỗi tháng chị M phải trả số tiền là 1.186.000đồng, bắt đầu trả là vào ngày 01/3/2015, kỳ cuối thanh toán vào ngày 01/2/2018. Thời gian vay, chị M đã thanh toán được 09 kỳ với số tiền là 14.132.000 đồng. Xét sự thỏa thuận giao kết hợp đồng của các bên là hoàn toàn tự nguyện, việc giao kết phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 nên hợp đồng có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, từ ngày 14/12/2016 đến nay chị M đã vi phạm hợp đồng, không thanh toán số tiền còn nợ, hiện nay đã hết thời hạn vay 36 tháng. Do đó, VPB FC khởi kiện yêu cầu chị Lê Thị Kim M trả số tiền nợ gốc là 16.757.411 đồng và tiền nợ lãi là 11.081785 đồng, tổng số tiền là 27.839.196 đồng. Căn cứ Bảng kế hoạch trả nợ, lịch sử thanh toán và lời khai nhận của bị đơn có cơ sở xác định chị M còn nợ Công ty V số tiền vay đến hạn và tiền lãi là 27.839.196 đồng.

Xét về mức lãi suất do hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định điểm d khoản 1 Điều 108; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 9, 10 của Thông tư số 43/2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước. Do đó, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty V. Do Công ty V chỉ khởi kiện yêu cầu chị M trả tiền vay, mặt khác anh Phan Hoàng L không tham gia thỏa thuận vay với công ty nên không buộc anh L có trách nhiệm trả nợ cùng với chị M.

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim M phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228 Bộ tố tụng dân sự năm 2015

Căn cứ Điều 463; khoản 2 Điều 468, 466, 688 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 4 Điều 4; điểm d khoản 1 Điều 108 và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 9 Nghị định 39/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2010 của Chính phủ.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty V về việc yêu cầu chị Lê Thị Kim M trả số tiền vay còn nợ.

[2] Buộc chị Lê Thị Kim M có trách nhiệm thanh toán cho Công ty V số nợ gốc và tiền nợ lãi tới hạn là 27.839.196 đồng (Hai mươi bảy triệu tám trăm ba mươi chín nghìn một trăm chín mươi sáu đồng).

[3] Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

[4] Án phí: Chị Lê Thị Kim M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.391.959 đồng (Một triệu ba trăm chín mươi mốt nghìn chín trăm năm mươi chín đồng). Hoàn trả cho Công ty V số tiền 700.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 9073 ngày 10/7/2017 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

[5] Án sơ thẩm, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

[6] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ