vanban.org

Bản án 36/2017/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tuyên án 22/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phan Quốc T , Châu Ngọc T1, Nguyễn Thanh H1 phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.

Xử phạt: Phan Quốc T: 09 (chín) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ 14/6/2017 (ngày mười bốn tháng sáu năm hai nghìn không trăm mười bảy). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phan Quốc T , Châu Ngọc T1, Nguyễn Thanh H1 phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 20 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 36/2017/HS-ST
Ngày: 22-9-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thanh Nhàn – Phó trưởng phòng Nội vụ huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Ông Huỳnh Thanh Tuấn – Phó bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2017/HSST ngày 05 tháng 9 năm 2017, đối với các bị cáo:

1. Phan Quốc T, sinh năm 1985, tại huyện C, tỉnh A; nơi đăng ký hộ khẩu thường và chỗ ở: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh A; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 8/12; con ông Phan Anh T (chết) và bà Từ Kim Đ, sinh năm 1950; vợ là Trương Thị T.E, sinh năm 1987; có 01 người con sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: chưa;

Bị tạm giữ từ ngày 14/6/2017 đến ngày 23/6/2017 bị tạm giam đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Châu Ngọc T1, sinh năm 1990, tại huyện C, tỉnh A; nơi đăng ký hộ khẩu thường và chỗ ở: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh A; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 9/12; con ông Châu Long H, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969; chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: chưa;

Bị tạm giữ từ ngày 02/8/2017 đến ngày 04/8/2017 thì bị tạm giam đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1984, tại huyện C, tỉnh A; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh A; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1963 và bà Võ Thị Đ, sinh năm 1960; vợ là Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1989; có 01 người con sinh năm 2011.

Quá trình hoạt động: Từ nhỏ sống chung cha mẹ, học đến lớp 9 nghỉ, lớn lên có vợ, làm thuê sinh sống. Ngày 22/6/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 06 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”, tổng hợp hình phạt của hai tội là 02 năm 06 tháng tù. Nộp xong án phí ngày 11/9/2006, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2007 (Bản án không buộc bồi thường).

Tiền án, tiền sự: chưa;

Bị tạm giữ từ ngày 01/8/2017 đến ngày 04/8/2017 thì bị tạm giam đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Phan Thanh V, sinh năm 1973; nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh A; (vắng mặt).

Ông Hồ Bửu L, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh A; (có mặt).

Ông Phạm Thái P, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh A; (có mặt).

Ông Dương Công K1, sinh năm 1995; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh A; (có mặt).

Ông Huỳnh Văn Trọng H2, sinh năm 1996; nơi cư trú: Ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh A; (có mặt).

Ông Bùi Văn K2, sinh năm 1967; nơi cư trú: Ấp ấp L, xã L, huyện C, tỉnh A; (vắng mặt) .

Bà Trương Thị T.E, sinh năm 1987; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh A; (có mặt).

NHẬN THẤY

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 14/5/2017, Công an xã L, huyện C nhận được tin báo tại quán nước giải khát “L T” thuộc ấp L, xã L xảy ra vụ đánh nhau giữa Bành Văn Tr và Quách Vĩnh Q. Phan Thanh V – Trưởng Công an xã phân công các Công an viên gồm: Phạm Thái P, Hồ Bửu L, Dương Công K1, Huỳnh Văn Trọng H2 mặc trang phục ngành cùng Bùi Văn K2 – Trưởng ấp L đến hiện trường để giải quyết vụ việc. Tại đây, Trương Minh T2 (chủ quán) bố trí bàn, ghế để lực lượng ngồi làm việc. Khi này, Phan Quốc T, Châu Ngọc T1, và Nguyễn Thanh H1 chạy 02 xe mô tô đến, T1 tự ý vào ngồi cùng lực lượng, chửi lớn tiếng, H1 kéo T1 đi chỗ khác nhưng T1 tiếp tục trở lại dùng chân đạp ngã bàn, ghế; T, H1 chửi lực lượng và đánh P té ngã, riêng T1 lấy ghế nhựa đánh P thì được can ngăn, P bỏ chạy vào nhà T2. T, T1 quay sang lấy ghế nhựa đánh vào người và đầu của L, L bỏ chạy vào nhà của Nguyễn Thị Thùy T cách nhà T3 khoảng 06m. T, T1, H1 bỏ trốn, sau đó lần lượt ra đầu thú, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Mới tạm giam để điều tra.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) cái ghế nhựa màu đỏ, ghế bị gãy 01 chân trái phía sau;

- 01 (một) cái ghế nhựa màu đỏ, ghế bị gãy phần để tay bên phải;

- 01 (một) bộ quần áo (trang phục Công an xã), màu xanh sẫm, áo tay ngắn.

* Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 181 ngày 29/6/2017 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh An Giang, đối với Hồ Bửu L, sinh năm 1989: Sẹo đính trái kích thước 05 x 0.5cm; sẹo mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái kích thước 1.5 x 0.2cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 08%.

* Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 182 ngày 29/6/2017 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh An Giang, đối với Phạm Thái P, sinh năm 1982: Sưng u vùng chẫm trái ổn định; sưng nề mặt sau 1/3 dưới cẳng tay phải không tồn tại. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%.

Tại bản Cáo trạng số 35/VKS-HS ngày 05/9/2017Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo Phan Quốc T, Châu Ngọc T1, Nguyễn Thanh H1 về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 257 Bộ luật hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:

Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 257 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 257, điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 53, Điều 33 Bộ luật hình sự xử phạt:

+ Phan Quốc T: từ 06 đến 09 tháng tù;

+ Châu Ngọc T1: từ 06 đến 09 tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 257, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 53, Điều 33 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Thanh H1 từ 06 đến 09 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, do xem thường pháp luật, khi các Công an viên của xã L đến giải quyết mâu thuẫn giữa Bành Văn Tr và Quách Vĩnh Q thì các bị cáo đã dùng vũ lực tấn công, hành hung với lực lượng Công an đang thi hành công vụ được Nhà nước giao cho, gây mất an ninh trật tự, làm ảnh hưởng và xâm phạm đến quyền quản lý hành chính của lực lượng Công an nhân dân địa phương, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, bị cáo đã xâm phạm đến việc duy trì giữ gìn an ninh trật tự của người đang thi hành nhiệm vụ. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang truy tố các bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 257 Bộ luật hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý hành chính, bảo vệ trị an của lực lượng Công an nhân dân địa phương, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, dư luận quần chúng bất bình, trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý, điều hành xã hội của Nhà nước, làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân đối với chính quyền địa phương, làm cho lực lượng Công an tại địa phương không thực hiện được nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự của mình.

Xét tính chất, mức độ, hành vi của các bị cáo nhận thấy: Các bị cáo có đầy đủ năng lực, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình, biết việc cản trở lực lượng Công an nhân dân đang thi hành công vụ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bất chấp hậu quả, dùng vũ lực hành hung người đang thi hành nhiệm vụ, các bị cáo thể hiện tính hung hãn, liều lĩnh. Do đó cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Khi các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau, không có sự phân công vai trò, nhiệm vụ nên mối quan hệ giữa các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn.

Trong đồng phạm, các bị cáo cùng giữ vai trò là người thực hành. Bị cáo T1 tự ý ngồi vào bàn của lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ, có lời lẽ lớn tiếng với người đang thi hành công vụ, đạp ngã bàn ghế. Sau khi được can ngăn, T1 tiếp tục dùng ghế đánh vào người và đầu L. Cùng với T1, bị cáo T cũng có lời lẽ lớn tiếng với người đang thi hành công vụ, đánh P té ngã và dùng ghế đánh vào người và đầu L. Về bị cáo H1, sau khi can ngăn T1 cản trở lực lượng Công an đang thực hiện nhiệm vụ thì thấy T1 và T tấn công lực lượng Công an. Bị cáo cũng xông vào nắm cổ áo và dùng tay đánh vào người 01 công an viên. Xét, áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đầu thú. Riêng bị cáo T và bị cáo T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo H1 tác động gia đình tự nguyện bồi thường tiền thuốc cho anh Hồ Bửu L. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Đối với hành vi các bị cáo gây thương tích cho anh Hồ Bửu L với tỷ lệ tổn thương cơ thể 08% và anh Phạm Thái P với tỷ lệ tổn thương cơ thể 01% nhưng do anh P, anh L không yêu cầu xử lý hành vi cố ý gây thương tích nên không xem xét giải quyết là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) cái ghế nhựa màu đỏ, ghế bị gãy 01 chân trái phía sau;

- 01 (một) cái ghế nhựa màu đỏ, ghế bị gãy phần để tay bên phải;

Đây là công cụ các bị cáo sử dụng khi phạm tội, anh T3 không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

- 01 (một) bộ quần áo (trang phục Công an xã), màu xanh sẫm, áo tay ngắn. Đây là trang phục anh Hồ Bửu L mặc khi đang thực hiện nhiêm vụ. Xét, giao trả lại cho anh L.

Về trách nhiệm dân sự: Những người có quyền lợi liên quan không yêu cầu bồi thường thêm nên không đề cập giải quyết.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Phan Quốc T , Châu Ngọc T1, Nguyễn Thanh H1 phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 257, điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 53, Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009;

Xử phạt: Phan Quốc T: 09 (chín) tháng tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ 14/6/2017 (ngày mười bốn tháng sáu năm hai nghìn không trăm mười bảy).

Áp dụng khoản 1 Điều 257, điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 53, Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009;

Xử phạt: Châu Ngọc T1: 09 (chín) tháng tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ 02/8/2017 (ngày hai tháng tám năm hai nghìn không trăm mười bảy).

Áp dụng khoản 1 Điều 257, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 53, Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009;

Xử phạt: Nguyễn Thanh H1: 06 (sáu) tháng tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ 01/8/2017 (ngày một tháng tám năm hai nghìn không trăm mười bảy).

Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009; khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy:

- 01 (một) cái ghế nhựa màu đỏ, ghế bị gãy 01 chân trái phía sau;

- 01 (một) cái ghế nhựa màu đỏ, ghế bị gãy phần để tay bên phải.

Giao trả cho Hồ Bửu L: 01 (một) bộ quần áo (trang phục Công an xã), màu xanh sẫm, áo tay ngắn.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/9/2017 giữa Cơ quan điều tra và Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới)

- Áp dụng Điều 98, Điều 99, Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Phan Quốc T, Châu Ngọc T1, Nguyễn Thanh H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với án phí) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ