- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRANH CHẤP LY HÔN"
- Tòa quyết gì? điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 359/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28/8/2025 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Tiên
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Ngọc Kính
2. Bà Đặng Thu Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân
Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 -
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 866/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 192/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị H, sinh năm 1994; Địa chỉ: số a, đường b,
phường Chánh Hưng (phường Rạch Ông, Quận 8 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Trang A, sinh năm 1990; Địa chỉ: số a, đường b,
phường Chánh Hưng (phường Rạch Ông, Quận 8 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/6/2024 nộp Tòa án nhân dân Quận 8,
Thành phố Hồ Chí Minh nay là Toà án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh ngày 03/6/2024 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ nguyên đơn bà Trịnh Thị H trình bày:
Bà Trịnh Thị H và ông Nguyễn Trang A tự nguyện chung sống với nhau
từ năm 2016 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Rạch Ông (Phường 1), Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 15/7/2016. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến năm 2021 mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do không hợp nhau, không tôn trọng nhau, không cùng tiếng nói chung đến tháng 3/2025 vợ chồng sống ly thân. Nay tình cảm vợ chồng không còn nưa, dù hai bên cố gắng hoà giải đoàn tụ gia đình nhưng không thành, không thể duy trì cuộc hôn nhân, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Trịnh Thị H yêu cầu Toà án cho bà H được ly hôn với ông Nguyễn Trang A.
Về nuôi con chung: Bà H xác định vợ chồng chung sống với nhau có 02
(hai) con chung tên là Nguyễn Phương V, sinh ngày 15/4/2016 và Nguyễn Phương L, sinh ngày 05/11/2018, ngoài ra không còn con chung nào khác. Hiện nay hai trẻ đang sống cùng bà Hà. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) trẻ Nguyễn Phương V và Nguyễn Phương L không yêu cầu ông Nguyễn Trang A cấp dưỡng nuôi con.
Toà án giải thích nghĩa vụ của cha mẹ đối với con, việc người trực tiếp
nuôi con và nghĩa cấp dưỡng nuôi con, quyền lợi của con trẻ cho các đương sự rõ theo Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2024. Bà Trịnh Thị H nghe và hiểu rõ tuy nhiên bà H vẫn bảo lưu ý kiến về cấp dưỡng nuôi con vì bà Trịnh Thị H đủ điều kiện nuôi dưỡng 02 (hai) con chung, bà H tạo điều kiện tốt nhất để 02 (hai) trẻ Nguyễn Phương V và Nguyễn Phương L sinh hoạt, học tập và phát triển tốt.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối
với bị đơn ông Nguyễn Trang A đến Tòa án để tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị H nên Tòa án không thể tiến hành thu thập được lời khai của ông Nguyễn Trang A và không hòa giải được.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn bà Trịnh Thị H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn
ông Nguyễn Trang A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh
phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã
tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi xét xử theo quy định pháp luật tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong
quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của
nguyên đơn theo quy định tại các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Trịnh Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên
căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà Trịnh Thị H.
Bị đơn ông Nguyễn Trang A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ
hai để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải mà vẫn vắng mặt. Do vậy, theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Trang A đã được Tòa án triệu tập hợp
lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông Nguyễn Trang A vắng mặt không có lý do. Do vậy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông Nguyễn Trang A.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét đơn yêu cầu ly hôn của bà Trịnh Thị H thì đây là tranh chấp ly hôn
theo yêu cầu một bên, do bị đơn ông Nguyễn Trang A hiện cư trú tại phường Chánh Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về các yêu cầu của đương sự:
Xét thấy, bà Trịnh Thị H và ông Nguyễn Trang A tự nguyện chung sống
với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 86 ngày 15/7/2016) nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận phù hợp với Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Trịnh Thị H cho rằng: Mâu thuẫn vợ
chồng phát sinh từ năm 2021 vì không hợp nhau, không tôn trọng nhau, bất đồng quan điểm sống vợ chồng không còn tiếng nói chung, vợ chồng sống không hạnh phúc. Vợ chồng tôi đã sống ly thân từ tháng 3/2025 cho đến nay. Dù hai bên đã cố gắng nhiều lần hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không thành. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không thể duy trì cuộc hôn nhân dù hai bên đã cố gắng nhiều lần hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không thành, tình cảm vợ chồng không còn nữa, tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Trịnh Thị H yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Trang A.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Trang A đến Tòa để trình bày ý
kiến tự khai, tạo điều kiện cho vợ chồng hòa giải, hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng ông Nguyễn Trang A vẫn vắng mặt mà không có lý do và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị H. Điều này thể hiện ông Nguyễn Trang A đã từ bỏ quyền lợi của mình, không còn tha thiết đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trầm trọng trong thời gian dài, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ cần chấp nhận.
Về nuôi con chung: Bà Trịnh Thị H xác định vợ chồng chung sống với
nhau có 02 (hai) con chung tên là Nguyễn Phương V, sinh ngày 15/4/2016 và Nguyễn Phương L, sinh ngày 05/11/2018, ngoài ra không còn con chung nào khác. Hiện nay hai trẻ đang sống cùng bà Hà. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) trẻ Nguyễn Phương V và Nguyễn Phương L không yêu cầu ông Nguyễn Trang A cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng
phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con trẻ, trẻ tên Nguyễn Phương V, sinh ngày 15/4/2016 và Nguyễn Phương L, sinh ngày 05/11/2018, hiện đang sinh sống cùng bà Trịnh Thị H tại địa chỉ: Số 231E/20/7T2 Dương Bá Trạc, phường Chánh Hưng (phường Rạch Ông, Quận 8 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Bản tự khai ngày 13/12/2024 của trẻ Nguyễn Phương V có nguyện vọng được sống với mẹ là bà Trịnh Thị H. Bà H sau khi đã được Toà án giải thích nghĩa vụ của cha mẹ đối với con, việc người trực tiếp nuôi con và nghĩa cấp dưỡng nuôi con, quyền lợi của con trẻ cho bà H nghe, hiểu rõ theo Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2024. Bà Trịnh Thị H vẫn bảo lưu ý kiến là bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) trẻ Nguyễn Phương V, sinh ngày 15/4/2016 và Nguyễn Phương L, sinh ngày 05/11/2018 không yêu cầu ông Nguyễn Trang A cấp dưỡng nuôi con. Để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con chung, việc giao con chung cho bà Trịnh Thị H tiếp tục nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông Nguyễn Trang A cho đến khi bà Trịnh Thị H có yêu cầu là phù hợp. Ông Nguyễn Trang A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai có quyền ngăn cản quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và Gia đình. Nếu sau khi ly hôn bà Trịnh Thị H và ông Nguyễn Trang A có yêu cầu tranh chấp về người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con thì giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Về tài sản chung: Bà Trịnh Thị H xác định không có nên không yêu cầu
Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà Trịnh Thị H xác định vợ chồng không có khoản nợ
chung nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực
10 - Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn
cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36,
điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều
58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
- Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng
Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị H về việc
xin ly hôn với ông Nguyễn Trang A.
- Về hôn nhân: Bà Trịnh Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Trang A
(theo giấy chứng nhận kết hôn số 86 của Ủy ban nhân dân Phường 1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/7/2016).
- Về nuôi con chung: Giao 02 (hai) con chung tên là Nguyễn Phương V,
sinh ngày 15/4/2016 và trẻ Nguyễn Phương L, sinh ngày 05/11/2018 cho bà Trịnh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con đối với ông Nguyễn Trang A cho đến khi bà H có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm
sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ
chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Trịnh Thị H xác định không có nên không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Trịnh Thị H xác định vợ chồng không có khoản nợ
chung nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Trịnh Thị
H phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0030751 ngày 11/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trịnh Thị H đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Về Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND.TPHCM; - VKSND Khu vực 10; - THADS TPHCM; - Các đương sự; - Lưu: Vp, hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Mỹ Tiên |