- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Đắc Hiệu - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trịnh Đắc H, Nguyễn Thị Tuyết M; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2023/HS-ST ngày 11-4-2023 của Tòa án nhân dân huyện V về hình phạt do có tình tiết mới.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt các; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 359/2023/HS-PT Ngày: 12 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Thế Phương;
Ông Trần Phương Đông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 211/2023/TLPT-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Trịnh Đắc H và Nguyễn Thị Tuyết M; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2023/HS-ST ngày 11-4-2023 của Tòa án nhân dân huyện V.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Trịnh Đắc H, sinh năm 1993, tại Nam Định; giới tính: Nam; nơi thường trú: Khu phố 7, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Hồng Hiệp, sinh năm 1961 và bà Dương Thị Châm, sinh năm 1963; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3, chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).
2. Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1983, tại Đồng Nai; giới tính: Nữ; nơi thường trú: Khu phố 7, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ngọc, sinh năm 1959 và bà Tạ Thị Dung, sinh năm 1959; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ nhất; có chồng tên: Nguyễn Thái An, sinh năm 1988, có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có các vụ án nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Khoảng 08 giờ ngày 01/12/2022, Lê Tuấn K tới quán cà phê của Nguyễn Thị Tuyết M thuộc Tổ 7B, Khu phố 7, thị trấn V uống nước. Sau đó lần lượt Nguyễn Văn Nhân điều khiển xe ô tô biển số 60A -761.77 và Trịnh Đắc H điều khiển xe ô tô H TOYOTA (loại 07 chỗ) biển số 60K-4273 cùng đến. Trong lúc uống nước, Lê Tuấn K rủ Nhân, H và M đánh bạc hình thức “Tiến lên Miền Nam” ăn thua bằng tiền thì cả nhóm đồng ý. M vào nhà lấy 01 bộ bài tây 52 lá đã cũ ra bàn đá trước quán cùng K, H, Nhân tham gia đánh bạc.
Cách thức đánh bạc “Tiến lên Miền Nam” ăn thua bằng tiền như sau: Sử dụng bộ bài tây 52 lá chia cho 04 người, mỗi người 13 lá. Người nào hết bài trước thì người đó thắng, lần lượt cho đến người cuối cùng còn bài là người thua cuộc. Ván đầu tiên ai có lá bài ba bích sẽ đánh trước, còn các ván tiếp theo người nào thắng ván trước sẽ chia bài và đánh bài đầu tiên. Bài bao gồm từ 2 đến A (Át) với 4 chất là cơ, rô, chuồn, bích. Xếp hạng độ mạnh giảm dần như sau: 2 (heo) lớn nhất rồi giảm dần từ A (xì/át) đến K (già), Q (đầm), J (bồi/ghi), 10 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3. Chất: Cơ lớn nhất rồi đến Rô, Chuồn, Bích. 3 đôi thông lớn sẽ chặt được 3 đổi thông nhỏ hơn và chặt được một cây 2 (heo); 4 đôi thông sẽ chặt được 1 cây 2 (heo) hay đôi 2 (heo) bất kì nào đó; 3 đôi thông nhỏ hơn tứ quý và tứ quý thì nhỏ hơn 4 đôi thông. 4 đôi thông có thể chặt mà không cần có vòng. Ăn trắng là người chơi có sảnh từ 2 tới A (xì/át), 5 đôi thông, 6 đôi thông hoặc tứ quý 2.
Mức độ ăn thua: Người về nhất thắng người về chót 20.000 đồng, người về thứ hai thắng người về thứ ba 10.000 đồng. Nếu bị chặt heo hoặc thối heo thì heo đen thua 10.000 đồng, heo đỏ thua 20.000 đồng, thối tứ quý thua 40.000 đồng, thối 04 đôi thông thua 40.000 đồng, thối 03 đôi thông thua 30.000 đồng. Nếu người chơi giết ngộp thì bị thua 40.000 đồng, nếu giết ngộp có thêm heo hoặc hàng (tứ quý, ba đôi thông, bốn đôi thông) thì cộng thêm tiền thối hàng nữa để tính tiền thua. Nếu người chơi thắng trắng (bài 06 đôi thông, sảnh từ 2 - A (át), năm đôi thông hoặc tứ quý 2) thì ba người chơi còn lại mỗi người thua 20.000 đồng.
Sòng bạc chơi đến 10 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an thị trấn V phối hợp với Công an huyện V phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang, chuyển Công an huyện V giải quyết theo thẩm quyền.
* Vật chứng vụ án:
- Thu giữ tại chiếu bạc: 01 bộ Tây (đã qua sử dụng); số tiền 60.000 đồng.
- Thu trong người các đối tượng:
+ Nguyễn Thị Tuyết M 920.000 đồng, 01 điện thoại di động H OPPO;
+ Trịnh Đắc H 3.550.000 đồng, 01 điện thoại di động H OPPO A53;
+ Lê Tuấn K 200.000 đồng;
+ Nguyễn Văn Nhân 4.120.000 đồng, 01 điện thoại di động I Phone 11, 01 điện thoại di động H Nokia 105.
- Tạm giữ tại hiện trường: 01 xe ô tô biển số 60K-142.73 của Trịnh Khắc H; 01 xe ô tô biển số 60A-761.77 của Nguyễn Văn Nh.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án sơ thẩm số: 34/2023/HS-ST ngày 11-4-2023, Tòa án Nh dân huyện V đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
1/ Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Trịnh Đắc H, Nguyễn Thị Tuyết M, Lê Tuấn K và Nguyễn Văn Nh phạm tội “Đánh bạc”.
2/ Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Trịnh Đắc H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ trước đó, từ ngày 01/12/2022 đến ngày 06/12/2022.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ trước đó, từ ngày 01/12/2022 đến ngày 06/12/2022.
- Xử phạt bị cáo Lê Tuấn K số tiền 20.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Nh số tiền 20.000.000 đồng.
3. Kháng cáo:
Ngày 17-4-2023, bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Ngày 17-4-2023, bị cáo Trịnh Đắc H kháng cáo đề nghị cho bị cáo phạt tiền hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án và đề nghị:
Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
Về hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo hình phạt tù là phù hợp không nặng như kháng cáo đã nêu nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Đối với tình tiết mới nộp tại giai đoạn phúc thẩm đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh:
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi; Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về kháng cáo và hình phạt:
2.1. Về kháng cáo:
Bị cáo H kháng cáo cung cấp giấy xác nhận đã từng tham gia nhập ngũ phục vụ quân đội; gia đình có công cách mạng, cụ thể: Ông ngoại Dương Văn Vịnh là liệt sỹ, bà Đỗ Thị Cân được nhà nước phong tặng danh H “Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng”; bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M có đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được xem xét áp dụng cho các bị cáo.
2.2. Về hình phạt:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo M có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo H từng tham gia nhập ngũ phục vụ quân đội, gia đình có công cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Các bị cáo tham gia đánh bạc với số không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên việc áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo là không cần thiết, cùng với các tình tiết giảm nhẹ mới các bị cáo nộp tại giai đoạn phúc thẩm, áp dụng Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo hình phạt chính bằng phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung; đồng thời, sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Chấp nhận một phần quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trịnh Đắc H, Nguyễn Thị Tuyết M; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2023/HS-ST ngày 11-4-2023 của Tòa án nhân dân huyện V về hình phạt do có tình tiết mới.
1. Về tội danh và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Trịnh Đắc H, Nguyễn Thị Tuyết M phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Trịnh Đắc H số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu đồng).
2. Về án phí:
Các bị cáo Trịnh Đắc H, Nguyễn Thị Tuyết M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Quyết định khác của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo khác, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có H lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có H lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo (1); - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Tòa án nhân huyện V (2); - Viện Kiểm sát nhân dân huyện V; - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện V; - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện V; - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Ông Trần Phương Đông - Vũ Thế Phương | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Quang THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Quang |