vanban.org

Bản án 359/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 22/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Trần Thanh T 48 (bốn mƣơi tám) thángtù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 31/08/2020. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh T - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------
Bản án số: 359/2020/HSST
Ngày: 22/12/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Tú.

Các hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Hà

Bà Nguyễn Thị Thân

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy–Cán bộ Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Bà Giang Thị Ánh Tuyết –Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sởTòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 412/2020/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 417/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Thanh T - Sinh năm: 1995, HKTT: phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, Hà Nội; Chỗ ở: không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông:Trần Xuân T; Con bà: Nguyễn Thị N; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất;Tiền án, tiền sự: 01 tiền án.

01 Tiền án:

+ Ngày 15/09/2016, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, xử phạt 26 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 30/04/2018 (Đã xóa án tích).

Danh chỉ bản số 410 lập ngày 01/09/2020 do Công an quận Hai Bà Trưng cung cấp. Bắt quả tang ngày 31/08/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

Anh Nguyễn Quang N – sinh năm 1999

HKTT : xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23h00’ ngày 31/8/2020, tại khu vực trước cửa số 2 ngõ 55 Lê Đại Hành, phường Lê Đại Hành, Hai Bà Trưng, Hà Nội, tổ công tác Công an phường Lê Đại Hành phát hiện Trần Thanh T và 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, nam thanh niên lợi dụng sơ hở, bỏ chạy và đánh rơi 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 màu đỏ, IMEI: 353656/06/317311/8 cùng số tiền 2.000.000 đồng. Đồng thời, T tự giác giao nộp từ trong lòng bàn tay trái 01 gói nilon màu trắng, kích thước khoảng 4x6cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ T khai nhận đó là ma tuý “đá”, mang đi bán cho khách kiếm lời. Khi bị kiểm tra, T đi cùng Nguyễn Quang N (SN: 1999, HKTT: xã Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng, đưa T cùng vật chứng về trụ sở để làm rõ. Ngoài ra, cơ quan công an còn thu giữ của T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 (IMEI: 355301081241500), màu đen, đã qua sử dụng.

Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Nguyễn Quang N 01 điện thoại di động Itel màu đen, IMEI. 351980102436233.

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số ma tuý thu giữ trên. Tại bản Kết luận giám định số 8000/KLGĐ-PC09 ngày 09/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilon (thu giữ của Trần Thanh T) là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng: 1,690 gam”.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trần Thanh T khai nhận: Khoảng 18h00’ ngày 31/8/2020, T đang ở nhà tại số 17 ngõ 11 Nguyễn Quý Đức, phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, Hà Nội thì nhận được điện thoại từ số 0921474204 của H là bạn xã hội của T, đến số 0847834878 của T, hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý đá. T đồng ý và hẹn giao dịch mua bán ma tuý tại 55 Lê Đại Hành, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Sau đó, T đi bộ ra khu vực đầu ngõ 11 Nguyễn Quý Đức, mua 01 gói ma tuý đá của 01 người đàn ông không quen biết với giá 800.000 đồng. T cất gói ma tuý vừa mua được vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà rồi rủ Nguyễn Quang N đi chơi, tuy nhiên mục đích của T là mang ma tuý đi bán cho H. T không nói cho N biết việc mua bán ma tuý. Sau đó, T và N đi taxi đến khu vực ngõ 55 Lê Đại Hành, T chuẩn bị giao ma tuý cho H thì bị tổ công tác kiểm tra, bắt giữ như trên.

Cơ quan điều tra đã tổ chức dẫn giải Trần Thanh T xác định địa điểm mua ma tuý và người đàn ông đã bán ma tuý cho T. Kết quả: T xác định được địa điểm mua ma tuý, không xác định được người đàn ông bán ma tuý, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để tiếp tục xác minh, xử lý.

Đối với 01 điện thoại di động Itel màu đen, IMEI. 351980102436233 thu giữ của Nguyễn Quang N, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của N, không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Vì vậy, ngày 25/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu, trao trả cho anh N chiếc điện thoại trên.

Đối với Nguyễn Quang N, lời khai của N phù hợp với lời khai của Trần Thanh T, N không biết việc T tàng trữ ma tuý để bán kiếm lợi. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Tuy nhiên, quá trình điều tra N khai sử dụng ma tuý đá vào tháng 7/2020 nên ngày 25/11/2020, Công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP bằng hình thức Phạt tiền.

Đối với đối tượng “H” sử dụng số điện thoại 0921474204 là người mua ma tuý của Trần Thanh T ngày 31/8/2020, tại khu vực ngõ 55 Lê Đại Hành, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín đối với số thuê bao trên. Kết quả: Công ty cổ phần viễn thông di động Vietnammobile cung cấp danh sách tin nhắn, cuộc gọi đi, cuộc gọi đến của số 0921474204 đến số điện thoại 0847834878 của Trần Thanh T ngày 31/8/2020 phù hợp với kết quả kiểm tra điện thoại của T. Ngoài ra, Công ty cổ phần viễn thông di động Vietnammobile không cung cấp thêm thông tin liên quan đến chủ sở hữu của số thuê bao 0921474204 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trưng không có căn cứ để tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý đối tượng H.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 (IMEI: 355301081241500), màu đen thu giữ của Trần Thanh T, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của T, T sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma tuý.

Đối với 01 điện thoại di động Nokia105 màu đỏ, IMEI: 353656/06/317311/8 cùng số tiền 2.000.000 đồng, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của đối tượng “H” (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) là người mua ma tuý của Trần Thanh T ngày 31/8/2020. Khi cơ quan công an phát hiện, H bỏ chạy, làm rơi số tài sản trên tại hiện trường. Đối tượng đã sử dụng chiếc điện thoại trên để liên lạc trao đổi mua bán ma tuý.

Tại Bản cáo trạng số 385/CT-VKSHBT-HS ngày 30 tháng 11 năm 2020 đã truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tạikhoản 1 Điều 251, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan công an, công nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Trần Thanh T như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụngkhoản 1, khoản 5Điều 251, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáoTrần Thanh T với mức án từ 42 đến 48 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo số tiền 5.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:

-Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nilon đã được niêm phong bên trong có chứa 1,690 gam Methamphetamine bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Trần Thanh T.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 355301081241500, thu giữ của bị cáo Trần Thanh T vì liên quan đến hành vi phạm tội.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu đỏ đã qua sử dụng, số IMEI: 353656/06/317311/8, thu giữ của đối tượng Hưng mua ma túy của bị cáo Trần Thanh T bỏ chạy đánh rơi tại hiện trường vì có liên quan đến hành vi phạm tội.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của đối tượng Hưng mua ma túy của bị cáo Trần Thanh T bỏ chạy đánh rơi tại hiện trường vì có liên quan đến hành vi phạm tội.

Bị cáo nói lời sau cùng, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án:Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà Nội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23h00’ ngày 31/8/2020, tại khu vực trước cửa số 2 ngõ 55 Lê Đại Hành, phường Lê Đại Hành, Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Trần Thanh T có hành vi mua bán trái phép 1,690gam Methamphetamine mục đích để kiếm lời.

Hành vi nêu trên của Trần Thanh T đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Do đó viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theokhoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm an ninh trật tự an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện làm huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những kẻ mua bán ma tuý và ma tuý cũng là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách lybị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.

. Xét nhân thân của bị cáo có 01 tiền án. Tuy tiền án đã được xóa nhưng cho thấy bị cáo là người có nhân thân không được tốt, đã được giáo dục pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng đạo đức mà tiếp tục phạm tội.Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, do vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáoTrần Thanh T không có nghề nghiệp, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

.Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

-Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nilon đã được niêm phong bên trong có chứa 1,690 gam Methamphetamine bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Trần Thanh T.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 355301081241500, thu giữ của bị cáo Trần Thanh T vì liên quan đến hành vi phạm tội.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu đỏ đã qua sử dụng, số IMEI: 353656/06/317311/8, thu giữ của đối tượng Hưng mua ma túy của bị cáo Trần Thanh T bỏ chạy đánh rơi tại hiện trường vì có liên quan đến hành vi phạm tội.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của đối tượng Hưng mua ma túy của bị cáo Trần Thanh T bỏ chạy đánh rơi tại hiện trường vì có liên quan đến hành vi phạm tội.

- Đối với Nguyễn Quang N không biết việc T tàng trữ ma tuý để bán kiếm lời, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý và ngày 25/11/2020, Công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP bằng hình thức Phạt tiền nên không xét.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bán án theo quy định pháp luật.

Từ những nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Trần Thanh T 48 (bốn mƣơi tám) thángtù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 31/08/2020.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

3.Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

-Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nilon đã được niêm phong bên trong có chứa 1,690 gam Methamphetamine bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Trần Thanh T.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 355301081241500, thu giữ của bị cáo Trần Thanh T.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu đỏ đã qua sử dụng, số IMEI: 353656/06/317311/8, thu giữ của đối tượng Hưng mua ma túy của bị cáo Trần Thanh T bỏ chạy đánh rơi tại hiện trường.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của đối tượng Hưng mua ma túy của bị cáo Trần Thanh T bỏ chạy đánh rơi tại hiện trường.

Các tang vật trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng - Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày30/11/2020(TV: 58/21) giữa Công an quận Hai Bà Trưng và Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng và biên và theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 30 tháng 11 năm 2020.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,buộc bị cáophải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền,lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án.

Cỡ chữ