vanban.org

Bản án 359/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 25/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự vµ §iều 47 Bộ luật hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu H1, bên trong ma túy.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TN
TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 359/2019/HSST
Ngày 25/7/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Văn Xây

2. Ông Trần Quảng Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TN

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2019 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 355/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 375/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 07/8/1978.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm Tr xã H.T, TP TN, tỉnh TN. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12. Con ông Nguyễn Ngọc H1 (đã chết), con bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1952. Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai. Có vợ: Nguyễn Thị Th sinh năm 1976, có 03 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án số 212/2008/HSST ngày 19/10/2008 của Tòa án nhân dân thành phố TN xử phạt Nguyễn Văn H 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bản án số 111/2008/HSST ngày 19/11/2008 của Tòa án nhân dân huyện Đ.H, tỉnh TN xử phạt Nguyễn Văn H 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tổng trị giá tài sản trộm cắp là 870.000 đồng), được miễn chấp hành hình phạt tù ngày 29/10/2009 theo Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 211 ngày 15/7/2008 của Công an phường Tr.V, thành phố TN xử phạt Nguyễn Văn H 150.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 263 ngày 18/5/2011 của Công an phường Tr.V, thành phố TN xử phạt Nguyễn Văn H 150.000 đồng về hành vi “Trộm cắp vặt”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam giam từ ngày 22/03/2019 cho đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)

Người chứng kiến ông Vũ Quốc T1, sinh năm 1964. Địa chỉ tổ 10, phường Tr.V, thành phố TN. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 6 giờ 50 phút ngày 22/03/2019, tổ công tác của Công an phường Tr.V làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 10, phường Tr.V, thành phố TN phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông trên chấp hành, khai tên là Nguyễn Văn H, H tự giác lấy từ trong túi quần phía trước bên trái ra 02 gói giấy bạc màu trắng giao nộp cho tổ công tác, H khai là ma túy Heroine của H. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, niêm phong thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của H có khối lượng 0,277 gam. Tại bản Kết luận giám định số 573/KL-PC09 ngày 29/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn H ngày 22/3/2019 là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,277 gam.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn H khai nhận: Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 22/3/2019, H đi từ nhà tới khu vực cầu G thuộc phường Đ.B, thành phố TN để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, H gặp và mua của 01 nam thanh niên không quen biết 02 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng. Mua xong, H cất 02 gói Heroine vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi về nhà để sử dụng. Tuy nhiên, khi đi đến khu vực gần khách sạn Sơn Hải thuộc phường Tr.V, thành phố TN thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Lời khai nhận của bị can Nguyễn Văn H phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu H, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 363/CT-VKSTPTN ngày 29 tháng 6 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như như nội dung bản cáo trạng truy tố.

Trong phần luận tội, tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các căn cứ quy kết bị cáo Nguyễn Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; đánh giá nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Từ đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Nguyễn Văn H từ 24 đến 30 tháng tù giam.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01(một) bì niêm phong ký hiệu H1

- Về án phí bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Phần lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố TN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và vật chứng thu giữ. Hội đồng xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 6 giờ 50 phút ngày 22/3/2019, tại tổ 10, phường Tr.V, thành phố TN, Nguyễn Văn H đang có hành vi tàng trữ 0,277 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Tr.V, thành phố TN phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng

Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo biết ma túy là vật cấm được Nhà quản lý nhưng vấn cố tình tàng trữ 0,277gam mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát thành phố TN truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều 249 quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c, Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Xét tính chất mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Nguyễn Văn H chưa có tiền án tiền sự. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xét thấy, Tuy bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bản thân bị cáo đã 02 lần bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản; 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản. Bị cáo không lấy đó làm bài học, tu dưỡng rèn luyện bản thân, tiếp tục phạm tội, Hội đồng xét xử xem xét cần lên một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, để bị cáo thấy sự nghiêm minh của pháp luật, rèn luyện chở thành người có ích cho xã hội.

Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Vật chứng của vụ án:

- 01(một) bì niêm phong ký hiệu H1, bên trong chứa Heroine là vật cấm và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung và án phí

- Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù lẽ ra Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng theo biên bản xác minh, bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Nguyễn Văn H khai mua của một người đàn ông không quen biết do không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

1. Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự vµ §iều 47 Bộ luật hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu H1, bên trong ma túy. Theo biên bản giao nhận vật chứng số 389 ngày 01/7/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN.

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà Nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ