- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá Tr phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các Điều 329, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 358/2022/HSST Ngày 27 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Cần
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
2. Ông Phạm Lành
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Chính, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 365/2022/TLST-HS, ngày 09 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 308/2022/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Bá Tr, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1962; tại: Thái Nguyên;
Nơi cư trú: Tổ X, phường TV, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Nguyễn Bá T (đã chết); con bà: Đỗ Thị Y (đã chết); Vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1966 và có 01 con, sinh năm 1988; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Nhân thân:
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/HSST ngày 23/3/1991 của Toà án nhân dân thành phố T, xử phạt Nguyễn Bá Tr 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 15, ngày 28/11/1994 của Công an phường TV, thành phố T, xử phạt Nguyễn Bá Tr “Cảnh cáo” về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
- Năm 1995 bị Công an phường TV, thành phố T, xử phạt Nguyễn Bá Tr 50.000đ về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Năm 1995 bị Công an phường TV, thành phố T, xử phạt Nguyễn Bá Tr 30.000đ về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
- Tháng 6 ăm 1996 bị Công an phường TV, thành phố T, xử phạt Nguyễn Bá Tr 50.000đ về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Tháng 9 ăm 1996 bị Công an phường TV, thành phố T, xử phạt Nguyễn Bá Tr 50.000đ về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 248/HSST ngày 29/12/2004 của Toà án nhân tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Nguyễn Bá Tr 02 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (đã chấp hành xong bản án ngày 28/4/2011).
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/6/2022, tạm giam từ ngày 13/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Nguyên (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người chứng kiến: Ông Lương Văn V, sinh năm 1968(vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố ĐB, phường ĐB, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 20 phút, ngày 04/6/2022, tổ công tác của Công an phường ĐB, thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố GB, phường ĐB, thành phố Thái Nguyên, phát hiện một đối tượng đang điều khiển xe mô tô nhãn Tr HONDA WARE; BKS: 20B2-21927 có biểu hiện liên quan đến ma tuý, nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra đối tượng khai nhận tên là Nguyễn Bá Tr, sinh năm 1962; trú tại Tổ X, phường TV, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, đồng thời tự giác lấy từ trong túi áo ngực phía trước, bên trái đang mặc trên người ra 01 gói giấy màu vàng, bên trong có chất bột màu trắng, Tr khai là Heroine, mua về để sử dụng cho bản thân giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong gói chất bột mầu trắng thu giữ của Tr, tạm giữ 01 xe mô tô, rồi đưa Tr cùng các vật chứng thu giữ về cơ quan công an để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 21 giờ 10 phút, ngày 04/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng gói chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Bá Tr, có khối lượng 0,150 gam, rồi niêm phong trong bì ký hiệu B gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành giám định.
Tại Kết luận giám định số 807/KL-KTHS ngày 13/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,150 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Bá Tr khai nhận: Bản thân Tr là người nghiện ma tuý, nên khoảng 15 giờ, 00 phút, ngày 04/6/2022, Tr điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20B2-21927 đi từ phường P, thành phố Thái Nguyên đến khu vực cầu GB, phường ĐB, thành phố Thái Nguyên để tìm mua ma tuý sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, Tr gặp một người đàn ông không quen biết và mua của người đàn ông này 01 gói ma túy, loại heroine với số tiền là 100.000 đồng. Sau khi mua xong, Tr cất gói ma túy vừa mua được vào túi áo ngực, phía trước bên trái và điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Khi Tr đi đến khu vực gần cây xăng cầu GB, thuộc tổ dân phố GB, phường ĐB, thành phố Thái Nguyên, thì bị tổ công tác của Công an phường ĐB, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên, ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của Tr 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 20B2-21927, đăng ký mang tên Nguyễn Bá Tr.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 344/CT-VKSTPTN, ngày 07/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Bá Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 344/CT-VKSTPTN, ngày 07/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 21 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2022; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu B bên trong chứa ma tuý và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định, 01 phong bì niêm phong hiệu C, bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Bá Tr 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 20B2-21927, nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng và thành người có ích cho xã hội.
Người chứng kiến, ông Lương Văn V trình bày: Khoảng 15 giờ 20 phút, ngày 04/6/2022 ông V được Tổ công tác của Công an phường ĐB mời chứng kiến việc kiểm tra 01 nam giới tên là Nguyễn Bá Tr, sinh năm 1962, trú tại: Tổ X, phường TV, thành phố Thái Nguyên, quá trình kiểm tra Tr tự lấy trong túi áo ngực bên trái ra 01 gói ma tuý loại Heroine, do Tr mua về để sử dụng cho bản thân giao nộp cho tổ công tác. Sau đó tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm pháp quả tang, niêm phong các vật chứng và đưa Tr về cơ quan công an giải quyết theo thẩm quyền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Bá Tr tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 15 giờ 20 phút, ngày 04/6/2022, tại tổ dân phố GB, phường ĐB, thành phố Thái Nguyên, Nguyễn Bá Tr đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,150 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy trên theo Tr khai là mua của một người đàn không quen biết tại khu vực cầu GB, thuộc tổ dân phố GB, phường ĐB, thành phố Thái Nguyên với số tiền là 100.000đ (một trăm nghìn đồng).
Hành vi tàng trữ trái phép 0,150 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân do Nguyễn Bá Tr thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, Bản cáo trạng số 344/VKSTPTN ngày 07/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Khoản 1 Điều 249 của BLHS quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…
c) Heroine …..có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Tổ X, phường TV, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 7/10, sau đó nghỉ học ở nhà, lớn xây dựng gia đình và làm ruộng tại địa phương. Do không chịu lao động tu dưỡng, nên đã mắc nghiện ma tuý và nhiều lần bị kết án, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “gây rối trật tự công cộng”, “Sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma tuý” nhưng vẫn không có ý thức cải tạo tu dưỡng mà tiếp tục lao vào vòng tội lỗi
- Bị cáo là người có nhân thân xấu.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình – Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Mức án mà đại viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:
Liên quan đến vụ án này còn có đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Bá Tr, tuy nhiên do Tr không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở để điều tra làm rõ.
[8]. Về vật chứng vụ án:
Còn lại 01 phong bì niêm phong ký hiệu B, bên trong chứa ma tuý và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu C bên trong chứa vỏ thu giữ ban đầu- Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 20B2-219.27, số khung RLHJA3918KY220764; số máy JA39E1079588, màu sơn trắng đen, xe đã qua sử dụng – Xác định là tài sản chung của vợ chồng và là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình, nên cần xử lý trả lại cho bị cáo.
[9]. Về chi phí tố tụng: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các Điều 329, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về tội danh và hình phạt:
2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Tr phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Tr 21(hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2022.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu B, bên trong chứa ma tuý và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu C bên trong chứa vỏ thu giữ ban đầu.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Bá Tr 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 20B2-219.27, số khung RLHJA3918KY220764; số máy JA39E1079588, màu sơn trắng đen, xe đã qua sử dụng.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 382, ngày 13/9/2022 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Bá Tr phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Công an thành phố Thái Nguyên; - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên; - Bị cáo; Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Cần |