vanban.org

Bản án 357/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 29/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Trả bị cáo Hoàng Đức T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu vàng trắng, lắp sim số 0329725668, nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đức Tâm phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 357/2026/HS-ST
Ngày 29-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Ánh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hồng Anh và bà Nguyễn Bích Ngân

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hường, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6

- Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 304/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 423/2026/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

HOÀNG ĐỨC T, sinh năm 1992; số Căn cước: 025092009561; ĐKHKTT: Khu T, xã C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Kim S (đã chết) và bà Hoàng Thị P; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2016/HSST ngày 05/4/2016 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xử phạt Hoàng Đức T 30 tháng tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy; đã được xóa án tích.

Tạm giữ, tạm giam: từ ngày 09/02/2026 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 2, Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 04/02/2026, Hoàng Đức T đến khu vực ngã ba Ấp Đ gần Khu công nghiệp Y, tỉnh Bắc Ninh để tìm mua ma túy về sử dụng. T mua của một người đàn ông không quen biết 02 túi nilon chứa ma túy, gồm 01 túi nilon chứa 07 viên nén màu đỏ (ma túy ngựa) và 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng (ma túy đá) với giá 2.900.000 đồng. T cất giấu 02 túi nilon ma tuý vào trong người rồi đón xe ô tô khách đi về nhà tại khu T, xã C, tỉnh Phú Thọ.

Sáng ngày 09/02/2026, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu vàng trắng đăng nhập tài khoản Facebook “Tâm Hoàng” của mình làm quen với một người sử dụng tài khoản Facebook “Huyn Le”. Qua nhắn tin với nhau, người này rủ T về nhà tại thôn N, xã P, thành phố Hà Nội để chơi và có ma túy thì mang đến cùng sử dụng. T đồng ý và bảo người này gửi cho T vị trí và số điện thoại để khi nào đến T sẽ gọi điện thoại ra đón, người này đã gửi cho T định vị và số điện thoại 0927531383. T thuê anh Nguyễn Trung Đ (sinh năm 2002; trú tại khu G, xã C, tỉnh Phú Thọ, làm nghề lái xe ô tô tự do, là người quen của T) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MG ZS màu trắng BKS: 19B-032.98 chở T đến thôn N. T cầm theo túi ma túy để sử dụng. Khi đến khu vực thôn N, T bảo anh Đ dừng xe, T trả tiền thuê xe rồi xuống đi bộ đến điểm hẹn tìm gặp người dùng tài khoản Facebook “Huyn Le”, còn anh Đ lái xe đi về. Đến 14 giờ cùng ngày, T đi bộ đến khu vực ngã ba giao cắt giữa đường Q với đường vào thôn N, xã P thì bị Tổ công tác Công an xã P, thành phố Hà Nội kiểm tra hành chính, phát hiện trong người T cất giấu ma túy, Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Quá trình bắt quả tang và điều tra vụ án, cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và đồ vật, tài sản liên quan gồm:

- Khi bắt quả tang, thu giữ tại túi áo ngực bên trái T đang mặc 01 túi nilon kích thước (07x04)cm, bên trong chứa 07 viên nén màu đỏ và 01 túi nilon kích thước (03x03)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy.

- Quá trình điều tra, thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu vàng trắng, lắp sim số 0329725668, đã qua sử dụng.

Cùng ngày 09/02/2026, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Đức T tại Khu T, xã C, tỉnh Phú Thọ, kết quả: không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Kết luận giám định số 1919/KL-KTHS ngày 18/02/2026 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận:

- 07 viên nén màu đỏ bên trong 01 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,710 gam.

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,700 gam.

Tổng khối lượng ma túy bị thu giữ trong vụ án là 1,41 gam ma túy loại Methamphetamine.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố, bị cáo Hoàng Đức T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 104/CT-VKSHNI-KV ngày 07/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Hà Nội truy tố bị cáo Hoàng Đức T về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Hà Nội luận tội cho rằng tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên giữ nguyên bản cáo trạng. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội; bị cáo đã 01 lần bị kết án, đã được xóa án tích nhưng có nhân thân xấu, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Đức T từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại thu giữ của T; tiêu hủy 01 phòng bì niêm phong chứa ma túy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về đánh giá chứng cứ trong vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng, tối ngày 04/02/2026, Hoàng Đức T đến khu vực ngã ba Ấp Đ gần Khu công nghiệp Y, tỉnh Bắc Ninh mua của một người đàn ông không quen biết 02 túi nilon chứa ma túy, gồm 01 túi nilon chứa 07 viên nén màu đỏ là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,710 gam; 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,700 gam; tổng lượng ma túy là 1,41 gam Methamphetamine với giá 2.900.000 đồng. T mang ma tuý về nhà cất giấu. Ngày 09/02/2026, T mang số ma túy nêu trên đến thôn N, xã P, thành phố Hà Nội để cùng sử dụng với bạn thì bị bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo Hoàng Đức T tàng trữ trái phép 1,41 gam ma túy Methamphetamine thỏa mãn dấu hiệu của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Hà Nội truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và các tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn mua ma túy tàng trữ trái phép để sử dụng, hành vi của bị cáo đã góp phần làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng, cần xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2016/HSST ngày 05/4/2016 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xử phạt Hoàng Đức T 30 tháng tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy; phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 03/02/2018, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; nộp án phí ngày 05/4/2016. Áp dụng các điều 53 và 70 của Bộ luật Hình sự, bị cáo đã được xóa án tích nên không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo có nhân thân xấu, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo thành người có ý thức chấp hành pháp luật; đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm.

Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào hình phạt tù, cứ mỗi ngày tạm giữ, tạm giam được tính trừ một ngày tù.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ một số vật chứng cần xử lý như sau:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu vàng trắng, lắp sim số 0329725668, đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Đức T, kết quả điều tra chứng minh T sử dụng chiếc điện thoại để liên hệ với người bạn mới quen có tài khoản Facebook “Huyn L” là để T đến nhà người đó chơi và hẹn nhau sử dụng ma túy; không có căn cứ chứng minh T sử dụng điện thoại vào việc mua và tàng trữ ma túy. Xác định chiếc điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Đối với 02 túi nilon chứa ma túy, gồm 01 túi nilon chứa 07 viên nén màu đỏ là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,710 gam (Cơ quan giám định trích mẫu 0,201 gam); 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,700 gam (Cơ quan giám định trích mẫu 0,139 gam). Sau khi giám định, số ma túy còn lại được cho vào 01 phong bì được dán kín, trên mép dán có chữ ký của Giám định viên Lê Khắc N, cán bộ Công an Trần Quốc H, đối tượng Hoàng Đức T (BL63). Xét thấy, ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc ma túy bị thu giữ và đối tượng đã bán ma túy cho Hoàng Đức T: T khai mua ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 2.900.000 đồng tại khu vực ngã ba Ấp Đ gần Khu công nghiệp Y, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài lời khai của T không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra, làm rõ để xử lý người bán ma tuý.

- Kết quả xét nghiệm, Hoàng Đức T dương tính với chất ma túy, xác minh nhân thân T không thuộc các trường hợp bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a của của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

- Về đối tượng sử dụng tài khoản Facebook “Huyn Le” và số điện thoại 0927531383: T khai người sử dụng tài khoản Facebook “Huyn Le” rủ T đến nhà cùng sử dụng ma túy nên T mang theo ma túy để sử dụng thì bị bắt giữ, T chưa gặp “Huyn Le”. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát tại vị trí được người dùng Facebook “Huyn Le” cung cấp cho T nhưng không có ai có thông tin như T khai sinh sống tại đó. Tra cứu thông tin chủ thuê bao 0927531383 là chị Nguyễn Thụy Vân A, sinh năm 1981; trú tại 1, CMT8, KV15, phường B, thành phố Cần Thơ. Chị Vân A khai bị mất giấy tờ cá nhân vào năm 2020, chị không đăng ký số thuê bao 0927531383, không liên lạc với tài khoản Facebook “Tâm Hoàng”. Kết quả điều tra không xác định được người sử dụng tài khoản Facebook “Huyn Le” và số điện thoại 0927531383 là ai nên không có căn cứ xử lý.

- Đối với anh Nguyễn Trung Đ sử dụng chiếc xe ô tô nhãn hiệu MG ZS màu trắng BKS: 19B-032.98 chở Hoàng Đức T đến khu vực thôn N, xã P. Anh Đ không biết T cất giấu ma túy, phù hợp với lời khai của T về việc T không nói cho anh Đ biết T mang theo ma túy, do đó Cơ quan điều tra không xử lý anh Đ là có căn cứ.

Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Hoàng Đức T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/02/2026.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

- Trả bị cáo Hoàng Đức T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu vàng trắng, lắp sim số 0329725668, nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được dán kín, trên mép dán có chữ ký của giám định viên Lê Khắc N, cán bộ Công an Trần Quốc H, đối tượng Hoàng Đức T.

Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 - Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng số 2026/KV6-333 GN/THA-CA ngày 07/5/2026 giữa Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 - Hà Nội.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Hoàng Đức T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 29/5/2026.

Cỡ chữ