vanban.org

Bản án 356/2022/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 22/04/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/04/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tuấn Anh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP H N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 356/2022/HS-PT
Ngày: 22/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP H N

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Ng Th Nh

Các Thẩm phán:

Ông V Q H

Bà Ng B Ng

Thư ký phiên tòa: Bà Ng Th H- Thư ký Tòa án nhân dân TP H N

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP H N tham gia phiên tòa: Ông L M H- Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP H N, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 219/2022/TLPT-HS ngày 11 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo L T A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 229/2021/HSST ngày 30/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ A, TP H N.

Bị cáo có kháng cáo:

L T A, sinh năm 1998; giới tính: nam; ĐKHKTT: thôn Th Đ, xã K N, huyện Đ A, TP H N; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông L V T và bà Ng Th H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ từ ngày 13/10/2021 đến ngày 21/10; bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 15 phút ngày 13/10/2021, tổ công tác Công an xã K Chg, Công an huyện Đ A làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Nh, xã K Chg, huyện Đ A, TP H N phát hiện L T A đang điều khiển xe máy không gắn biển kiểm soát có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay trái của T A có 01 túi nilon màu trắng kích thước bên trong chứa tinh thể màu trắng. T A khai tinh thể màu trắng là ma túy.

Kết luận số 7481 ngày 20/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP H N có kết luận tinh thể màu trắng bên trong túi nilông thu giữ của L T A là Methamphetamine, khối lượng 0,165 gam.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 229/2021/HS-ST ngày 30/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ A, TP H N đã quyết định:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo L T A 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/10/2021 đến ngày 21/10/2021.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/01/2022 bị cáo L T A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm quy kết.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP H N:

- Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên được chấp nhận về hình thức.

- Án sơ thẩm quy kết bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 là đúng quy định pháp luật. Cấp sơ thẩm đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt 16 tháng tù áp dụng với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết gì mới. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo L T A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật.

Xét thấy khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trên mức khởi điểm của khung hình phạt không nhiều, bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên mức hình phạt 16 tháng tù cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của của bị cáo

Bị cáo được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo L T A 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/10/2021 đến ngày 21/10/2021.

2. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ