vanban.org

Bản án 355/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bị đơn bà Trương Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc bà Trương Thị N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm tính đến ngày 04/3/2026 là 78.047.748 đồng (Bảy mươi tám triệu, không trăm bốn mươi bảy nghìn, bảy trăm bốn mươi tám đồng) (trong đó nợ gốc là 33.994.693 đồng, lãi quá hạn 44.053.055 đồng). Kể từ ngày 05/03/2026 b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng S - Trương Thị N"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bị đơn bà Trương Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 355/2026/DS-ST
Ngày: 04-03-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Phan Thị Dòn

2- Bà Nguyễn Thị Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phước – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dịu Thùy – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2026, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 30/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2026/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 354/2026/QĐST-DS ngày 04/02/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Địa chỉ trụ sở: Số N, Phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D. Chức vụ: Tổng giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q. Địa chỉ: Số 278 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện theo ủy quyền của công ty S: Ông Trần Gia T, sinh năm: 1971. Địa chỉ: N, Phường X, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Trương Thị N, sinh năm 1976 (Vắng mặt không có lý do).

Địa chỉ: B, xã V, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 09 tháng 12 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có ông Trần Gia T trình bày như sau:

Ngày 28/11/2022, bà N có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể như sau:

+ Loại thẻ: Family

+ Số thẻ: 970403-3113

+ Hạn mức: 50.000.000

+ Ngày ký hợp đồng: 28/11/2022

+ Lãi suất áp dụng: 2.766%/ tháng

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà N đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 30.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay bà N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 5.400.000 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

+ Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước

+ Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước

+ Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước

+ Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ

+ Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ

+ Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), nên ngày 11/08/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 33.994.693 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu bà N phải trả số tiền còn thiếu tính đến ngày 04/3/2026 là 78.047.748 đồng. Cụ thể là:

+ Nợ gốc: 33.994.693 đồng.

+ Lãi quá hạn: 44.053.055 đồng

+ Lãi suất áp dụng: 4.149% (2.766% x 150%)

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà N, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên bà N vẫ chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

1. Buộc bà Trương Thị N phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/3/2026 là 78.047.748 đồng (Bảy mươi tám triệu, không trăm bốn mươi bảy nghìn, bảy trăm bốn mươi tám đồng), trong đó:

+ Nợ gốc: 33.994.693 đồng.

+ Lãi quán hạn: 44.053.055 đồng.

2. Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ 05/3/2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại Hợp đồng.

Bị đơn bà Trương Thị N đã được Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà Trương Thị N vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên tòa xét xử mà không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình cũng như nộp các tài liệu chứng cứ khác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

1. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S ông Trần Gia T có đơn xin vắng mặt và có bản tự khai trình bày yêu cầu như sau:

- Buộc bà Trương Thị N phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/3/2026 là 78.047.748 đồng (Bảy mươi tám triệu, không trăm bốn mươi bảy nghìn, bảy trăm bốn mươi tám đồng), trong đó:

+ Nợ gốc: 33.994.693 đồng

+ Lãi quán hạn: 44.053.055 đồng

- Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ 05/03/2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại Hợp đồng.

Bị đơn bà Trương Thị N vắng mặt không lý do.

2. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

- Về tuân theo tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện bà Trương Thị N yêu cầu bà N thanh toán khoản tiền vay nợ theo Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/11/2022 với mục đích tiêu dùng sinh hoạt phục vụ đời sống. Căn cứ vào kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 2404/TAKV10 ngày 12/11/2025 của Công an xã V có nội dung: “Công dân Trương Thị N, sinh năm 1976, CCCD xxxxxxxxxxxx có khai báo nơi ở hiện tại và thực tế cư trú tại địa chỉ B, xã V, Thành phố Hồ Chí Minh”. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có người đại diện theo ủy quyền ông Trần Gia T có đơn xin vắng mặt. Bị đơn bà Trương Thị N mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản sau: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các Giấy triệu tập đương sự nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ vào những tài liệu chứng cứ đã thu thập được để giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/11/2022, bị đơn được nguyên đơn đồng ý cấp thẻ tín dụng là: Loại thẻ: Family, Số thẻ: 970403-3113; hạn mức: 30.000.000 đồng. Kể từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 5.400.000 đồng thì ngưng. Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 11/8/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 33.994.693 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Vì vậy, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bà Trương Thị N trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/3/2026 là 78.047.748 đồng (Bảy mươi tám triệu, không trăm bốn mươi bảy nghìn, bảy trăm bốn mươi tám đồng) trong đó tiền gốc là 33.994.693 đồng; lãi quá hạn là 44.053.055 đồng, ngoài ra yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 05/3/2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng. Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

* Đối với yêu cầu thanh toán tiền gốc của Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng):

Căn cứ vào Bảng tóm tắt sao kê của Ngân hàng cho thấy kể từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 10/6/2023 bà N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 5.400.000 đồng thì ngưng.

Căn cứ Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 29/11/2019 quy định: “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát hành Thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp đồng. Trong trường hợp này, toàn bộ tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và chủ thẻ phải thanh toán. Nếu chủ thẻ có nhiều hơn một tài khoản với Đơn vị phát hành thẻ, việc vi phạm ở một tài khoản sẽ tự động được xem như là vi phạm ở tất cả tài khoản khác. Dù bất cứ trường hợp nào, Đơn vị phát hành thẻ có quyền chấm dứt tất cả các tài khoản của chủ thẻ tại Đơn vị phát hành thẻ. Đồng thời, Trường hợp chủ thẻ có bất kỳ khoản nợ nào khác tại Sacombank và/hoặc tại bất cứ tổ chức tín dụng nào khác phát sinh quá hạn, toàn bộ Dư nợ của chủ thẻ theo hợp đồng này cũng được xem là quá hạn và chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán toàn bộ dư nợ”.

Vì vậy, ngày 11/8/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn số tiền là 33.994.693 đồng làm nợ gốc là có cơ sở phù hợp với quy định của ngân hàng.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “…Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật…”.

Kể từ ngày 11/8/2023 đến nay, bà N không thanh toán thêm khoản tiền gốc nào cho ngân hàng nữa. Mặc dù đã được ngân hàng nhiều lần nhắc nhở, đôn đốc nhưng bà N vẫn không có thiện chí trả nợ. Vậy nên, bà N đã vi phạm thỏa thuận hợp đồng tín dụng, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà N phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc còn nợ là 33.994.693 đồng là có cơ sở chấp nhận.

* Đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi quá hạn của Ngân hàng TMCP S:

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “…Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật…”

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/11/2022, các bên không có thỏa thuận lãi quá hạn trong hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, tại Điều 1.24 và Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S quy định (các bên đã thỏa thuận bản điều khoản và điều kiện này là một phần của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/11/2022) có quy định như sau: "Lãi suất quá hạn là mức lãi suất tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn".

Căn cứ vào Quyết định số 2661/2022/QĐ-TTT ngày 28/10/2022 về việc ban hành Biểu phí sản phẩm dich vụ Thẻ Sacombank phát hành tại Việt Nam, qui định về lãi suất Thẻ tín dụng quốc tế là 2.48-2.77%/tháng. Đối chiếu qui định này của Sacombank thì từ ngày 11/8/2023 đến 04/3/3026 số tiền quá hạn là 44.053.055 đồng (Bốn mươi bốn triệu, không trăm năm mươi ba nghìn, không trăm năm mươi lăm đồng) là có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích và nhận định trên, đồng thời xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 91, Điều 94, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bị đơn bà Trương Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc bà Trương Thị N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm tính đến ngày 04/3/2026 là 78.047.748 đồng (Bảy mươi tám triệu, không trăm bốn mươi bảy nghìn, bảy trăm bốn mươi tám đồng) (trong đó nợ gốc là 33.994.693 đồng, lãi quá hạn 44.053.055 đồng).

Kể từ ngày 05/03/2026 bà Trương Thị N còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi trên số tiền nợ gốc quá hạn chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc trên. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của nguyên đơn thì lãi suất mà bà Trương Thị N phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của nguyên đơn

Các đương sự có quyền thỏa thuận về địa điểm giao nhận tiền và thời điểm giao nhận tiền, trường hợp không thỏa thuận được thì thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Trương Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.902.387 (Ba triệu, chín trăm linh hai nghìn, ba trăm tám mươi bảy) đồng.

- Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.396.416 (Một triệu, ba trăm chín mươi sáu nghìn, bốn trăm mười sáu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/24P/0051678 ngày 31/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

4/ Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014). Nơi nhận:

Cỡ chữ