- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Ông Chu Viết H, Bị đơn: Bà Vũ Thị Kim M"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ông Chu Viết H đối với bị đơn là bà Vũ Thị Kim M:
- Căn cứ chính? Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC B THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 354/2025/HNGĐ-ST Ngày: 07/8/2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC B - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Huy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
2. Ông Phạm Văn Chính.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Kim Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh – cơ sở 1 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1264/2024/TLST – HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 288/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Chu Viết H, sinh ngày 23 tháng 6 năm 1969 (có mặt).
Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 17/8/2022.
Nơi thường trú: 568A tổ 37, khu phố N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở hiện tại: ấp Đ, xã X, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Vũ Thị Kim M, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1969 (vắng mặt).
Chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx.
Địa chỉ: ấp Đ, xã X, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/8/2024, bản tự khai ngày 21/10/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ông Chu Viết H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 1998 ông và bà Vũ Thị Kim M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn (theo giấy chứng nhận kết hôn số 67, quyển số 01/1998 ngày 22/6/1998). Trong thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc, nhưng từ năm 2012 đến nay vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, mạnh ai nấy sống, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, bà M có người khác. Từ 10 năm nay, mặc dù hai vợ chồng sống chung cùng nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm, chăm sóc ai. Nay ông nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng nghiêm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài nên ông yêu cầu được ly hôn với bà M.
Về con chung: Có 03 con chung tên Chu Mạnh L, sinh ngày 14/3/2000; Chu Văn T, sinh ngày 08/6/2004 và Chu Văn T1, sinh ngày 26/4/2007. Ba cháu Mạnh L, Văn T, Văn T1 đã thành niên và có khả năng tự lo cuộc sống.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn là bà Vũ Thị Kim M đã được Tòa án nhân dân khu vực B – Thành phố Hồ Chí Minh (Tòa án nhân dân huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh cũ) triệu tập và tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng không có ý kiến đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn là Ông Chu Viết H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn là bà Vũ Thị Kim M đã được Tòa án nhân dân khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như trong quá trình giải quyết, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quan điểm giải quyết vụ án: Việc Ông Chu Viết H yêu cầu ly hôn với bà Vũ Thị Kim M là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bởi mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các điều 28, 35, 39 và 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn; về con chung: 03 cháu Chu Mạnh L, sinh ngày 14/3/2000; Chu Văn T, sinh ngày 08/6/2004 và Chu Văn T1, sinh ngày 26/4/2007 đã thành niên và có khả năng tự lo cuộc sống nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về tài sản chung: nguyên đơn không yêu cầu giải quyết, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực B – Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ông Chu Viết H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bà Vũ Thị Kim M. Bà M cư trú tại ấp Đ, xã X, Thành phố Hồ Chí Minh và quan hệ tranh chấp là Ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội.
. Về tố tụng: Bị đơn là bà Vũ Thị Kim M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
. Về quan hệ hôn nhân: Ông Chu Viết H và bà Vũ Thị Kim M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh (theo giấy chứng nhận kết hôn số 67, quyển số 01/1998 ngày 22/6/1998) nên có đủ căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà M là hợp pháp, quyền lợi của các bên được pháp luật bảo vệ.
. Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là Ông Chu Viết H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo lời khai của ông H thì sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, bà M có người khác, do mâu thuẫn nên mặc dù hai vợ chồng sống chung cùng nhà nhưng từ 10 năm nay mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm, chăm sóc ai.
. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã nhiều lần giải thích, động viên ông H đoàn tụ gia đình, vợ chồng cho nhau cơ hội để hàn gắn, xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng ông H cho rằng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Vì vậy, năm 2015 ông đã nộp đơn yêu cầu ly hôn với bà M, sau đó ông đã rút đơn khởi kiện nhưng ông nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng nghiêm trọng không thể hàn gắn được nên ông tiếp tục nộp đơn yêu cầu được ly hôn với bà M.
. Về phần bà M, mặc dù đã được Tòa án nhân dân khu vực B – Thành phố Hồ Chí Minh (Tòa án nhân dân huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh cũ) tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà M không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, không cung cấp tài liệu, chứng cứ đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do. Trong suốt thời gian vợ chồng mâu thuẫn, mạnh ai nấy sống cũng như thời gian ông H nộp đơn yêu cầu ly hôn, bà M cũng không có bất cứ động thái nào để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, xây dựng hạnh phúc gia đình. Điều này chứng tỏ bà M cũng không còn mong muốn níu kéo cuộc hôn nhân này để vợ chồng cùng vun đắp, xây dựng hạnh phúc gia đình.
. Nhận thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi xuất phát từ tình thương yêu giữa hai vợ chồng, có sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Tuy nhiên, trong cuộc sống hôn nhân bà M, ông H bất đồng quan điểm dẫn đến nảy sinh mâu thuẫn; mặc dù sống chung cùng nhà nhưng giữa ông H và bà M không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc đến nhau, mỗi người đều chỉ lo cuộc sống riêng của mình, mạnh ai nấy sống. Như vậy, ông H, bà M đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Xét mâu thuẫn chung giữa ông H và bà M đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông H yêu cầu ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở để chấp nhận.
. Về con chung: Ông Chu Viết H và bà Vũ Thị Kim M có 03 con chung tên Chu Mạnh L, sinh ngày 14/3/2000; Chu Văn T, sinh ngày 08/6/2004 và Chu Văn T1, sinh ngày 26/4/2007. Xét ba cháu Mạnh L, Văn T, Văn T1 đã thành niên và có khả năng tự lo cuộc sống, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yều cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về nợ chung: Ông Chu Viết H xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do Ông Chu Viết H là người nộp đơn yêu cầu ly hôn đối với bà Vũ Thị Kim M nên ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.
. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội;
- Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Căn cứ vào các điều 2, 6, 7, 7a, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ông Chu Viết H đối với bị đơn là bà Vũ Thị Kim M:
2. Về quan hệ hôn nhân: Ông Chu Viết H được ly hôn với bà Vũ Thị Kim M.
Giấy chứng nhận kết hôn số 67, quyển số 01/1998, đăng ký kết hôn giữa Ông Chu Viết H và bà Vũ Thị Kim M tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 22/6/1998 không còn hiệu lực khi bản án này có hiệu lực pháp luật.
3. Về con chung: Ông Chu Viết H và bà Vũ Thị Kim M có 03 con chung tên Chu Mạnh L, sinh ngày 14/3/2000; Chu Văn T, sinh ngày 08/6/2004 và Chu Văn T1, sinh ngày 26/4/2007. Xét ba cháu Mạnh L, Văn T, Văn T1 đã thành niên và có khả năng tự lo cuộc sống, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về tài sản chung: Do nguyên đơn không yều cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về nợ chung: Ông Chu Viết H xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Chu Viết H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số BLTU/23P/0042675 ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh); Ông Chu Viết H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
7. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
8. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận : - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực B - TP.HCM; - Phòng THADS khu vực B - TP.HCM; - UBND Phường T, TP.HCM; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Huy |