- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản Án HS 535 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: bị cáo NVH và bị cáo DDA phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 353/2021/HS-ST Ngày: 23/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Chủ tọa phiên tòa: Bà NBH Các Hội thẩm nhân dân: Bà VTM
Bà TTTV
- Thư ký phiên tòa: Bà NHN – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Ông TTK - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 334/2021/HSST ngày 21 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 355/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: NVH; Giới tính: Nam; sinh năm 1985 tại Hà Nội. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 29/10 ngõ 162B Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú tại: Số 42 Đặng Trần Côn, phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Con ông: NVH và con bà: PLH; Vợ: NMP. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án: Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử 16 năm tù về tội Giết người tại Bản án số 389/HSST ngày 05/6/2002; Tòa án Phúc thẩm tại Hà Nội xử 15 năm tù về tội Giết người tại Bản án số 1700/HSST ngày 08/11/2002. Giấy chứng nhận đặc xá ngày 17/01/2009 (đã được xóa án tích theo quy định tại Khoản 2 Điều 107 Bộ Luật Hình sự).
Danh chỉ bản số 274 do Công an quận Đống Đa lập ngày 17/5/2021. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 08/5/2021; bị cáo đang bị tạm giam, có mặt tại phiên tòa.
2/ Họ và tên: DDA; Giới tính: Nam; sinh năm 1989 tại Hà Nội. Đăng ký hộ khẩu thường trú: 25 Phùng Khắc Khoan, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú tại: Số 27/10 ngõ 162B Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 17/5/2021 theo Quyết định số 21 – QĐ/UBKT của Uỷ ban kiểm tra – Quận uỷ Đống Đa. Con ông: Đàm Đức Trung và con bà: Trần Thị Yến; Tiền án, tiền sự: Không. Danh chỉ bản số 275 do Công an quận Đống Đa lập ngày 17/5/2021. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 08/5/2021; Bị cáo đang bị tạm giam, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị DBN, sinh năm: 1986; Địa chỉ: 162B Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 07/5/2021, tại trước số 160, phố Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, tổ công tác C2D5 - PK02E - Công an thành phố Hà Nội kiểm tra đối với NVH đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Click, biển kiểm soát 30H3 – 1483 chở DDA. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong lòng bàn tay pH của DDA có 01 túi ni lông màu trắng kích thước 03x04cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng.
Ngoài ra, cơ quan điều tra còn tạm giữ của NVH 01 xe mô tô Honda Click màu trắng, BKS: 30H3 – 1483, SK: RLHJF18078J029733, SM: JF18E-0108859 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus 64Gb màu hồng (Imei: 353290079757175); tạm giữ của DA 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus 128 Gb màu đỏ (Imei: 355358082436703) và 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng).
Tại Bản kết luận giám định số: 3838/KLGĐ-PC09 ngày 14/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,945 gam.
Tại cơ quan điều tra, DDA và NVH đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
NVH và DDA là bạn hàng xóm với nhau từ nhỏ. Khoảng 19 giờ 09 phút ngày 07/5/2021, H sử dụng tài khoản facebook “H Cối” nhắn tin vào tài khoản facebook “Mất kiểm soát” của DA qua ứng dụng Messenger nhờ DA mua hộ 01 gam ma túy “đá”, DA đồng ý và báo cho H biết giá ma túy là 700.000 đồng, đồng thời xin được sử dụng ma túy cùng thì H đồng ý. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, DA đi bộ từ nhà ra đầu ngõ 162B Tôn Đức Thắng thì gặp Việt – là bạn xã hội và nhờ Việt mua hộ 01 gam ma túy với giá 700.000 đồng. Việt đồng ý cầm tiền rồi bỏ đi, khoảng 30 phút sau Việt quay lại và đưa cho DA 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng. DA biết đó là ma tuý nên đã rồi đi về nhà. Khoảng 05 phút sau, H điều khiển xe mô tô Honda Click, biển kiểm soát: 30H3 – 1483 đi đến nhà DA, tại đây, H đưa cho DA 700.000 đồng và rủ DA về nhà mình sử dụng ma tuý. DA đồng ý và cầm túi ma túy trong lòng bàn tay pH rồi lên xe mô tô do H điều khiển. Khi H và DA đi đến trước số 160 Tôn Đức Thắng thì đã bị tổ công tác C2D5 - PK02E - Công an thành phố Hà Nội kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.
Đối với Việt là người đã bán ma túy cho DA, DA không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Click màu trắng, Biển kiểm soát: 30H3 – 1483, SK: RLHJF18078J029733, SM: JF18E-0108859 tạm giữ của H. Qua xác minh xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Mai Phương (Sinh năm: 1985; Trú tại: Số 5, ngõ 41, đường Láng, phường Ngã Tư Sở, quận Đống Đa, TP Hà Nội – là vợ của H) nên cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe mô tô trên cho chị Phương.
Đối với số ma túy, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu hồng thu giữ của NVH; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đỏ và 700.000 đồng thu giữ của DDA, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đống Đa đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị DBN trình bày: chị N là chủ sở hữu: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đỏ. Bị cáo DA mượn của chị N nói là để chơi điện tử. chị N cho bị cáo DA mượn để sử dụng nhưng chị N không biết bị cáo sử dụng điện thoại của để thực hiện hành vi phạm tội. Nay chị N đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho chị chiếc điện thoại trên để chị tiếp tục sử dụng.
Cáo trạng số 323/CT-VKSĐĐ ngày 15/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã truy tố NVH và DDA về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên, sau khi phân tích đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt:
+ Bị cáo NVH mức án từ 20 tháng đến 24 tháng tù.
+ Bị cáo DDA mức án từ 20 tháng đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
* Xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,945 gam.
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu hồng thu giữ của NVH; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 700.000 đồng thu giữ của bị cáo DDA.
+ Trả lại cho chị DBN 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đỏ thu giữ của bị cáo DDA.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với nhau và thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được của vụ án được gửi đi giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 07/5/2021, tại trước số nhà 160, phố Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, DDA có hành vi giấu giữ trong lòng bàn tay pH của DA: 0,945 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để NVH và DDA sử dụng chung, thì bị tổ công tác C2D5 - PK02E - Công an Thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi giấu giữ 0,945 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng chung của DDA và NVH đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ Luật Hình sự.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo NVH và DDA về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hành vi giấu giữ 0,945 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng của các bị cáo là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy đã làm gia tăng các tệ nạn xã hội, không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bản thân bị cáo mà còn là nguyên nhân gây ra nhiều hệ quả xấu về kinh tế và trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức được hậu quả của hành vi phạm tội và đường lối xử lý nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm này nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục.
Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo DDA chưa có tiền án. Đây là lần đầu tiên bị cáo bị đưa ra truy tố và xét xử.
Bị cáo NVH đã có 01 tiền án tại Bản án số 389/HSST ngày 05/6/2002 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử 16 năm tù về tội Giết người; Tòa án Phúc thẩm tại Hà Nội xử 15 năm tù về tội Giết người tại Bản án số 1700/HSST ngày 08/11/2002. Giấy chứng nhận đặc xá ngày 17/01/2009. Bị cáo phạm tội khi ở độ tuổi vị thành niên nên đã được xóa án tích theo quy định tại Khoản 2 Điều 107 Bộ Luật Hình sự.
Xét về vai trò của từng bị cáo: Bị cáo H có vai trò rủ rê lôi kéo bị cáo DA đi mua ma túy. Bị cáo DA đồng ý và báo cho H biết giá ma túy là 700.000 đồng, đồng thời xin được sử dụng ma túy cùng thì H đồng ý. DA là người trực tiếp đi mua ma túy. Sau khi DA mua được ma túy, H đã đưa cho DA số tiền 700.000 đồng trả tiền mua ma túy và rủ DA về nhà mình sử dụng ma túy. DA đồng ý và cầm gói ma túy trong lòng bàn tay pH rồi lên xe mô tô do H điều khiển đi đến trước số 160 Tôn Đức Thắng thì bị cơ quan công an phát hiện bắt giữ. Như vậy, vai trò của hai bị cáo trong vụ án là ngang nhau, hỗ trợ tích cực cho nhau để thực hiện đến cùng hành vi phạm tội nên pH chịu mức án ngang nhau. Tuy nhiên, do bị cáo H đã có tiền án tuy được xác định là đã được xóa án tích nhưng cũng thể hiện bị cáo H đã được cơ quan pháp luật giáo dục nhưng không lấy đó làm bài học để giáo dục rèn luyện bản thân thành người công dân có ích cho xã hội. Do đó, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo H sẽ cao hơn bị cáo DA. Với những phân tích trên cần thiết pH cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai báo thành khẩn, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.
Ngoài hình phạt chính, lẽ ra các bị cáo pH chịu thêm hình phạt bổ sung bằng tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Song xét hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo lại không có nghề nghiệp ổn định nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền, vì vậy miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.
. Xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,945 gam.
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s thu giữ của bị cáo NVH do bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 700.000 đồng thu giữ của bị cáo DDA (là số tiền H đưa cho DA để mua ma túy).
+ Trả lại cho chị DBN: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đỏ thu giữ của DDA do chiếc điện thoại này là của chị N cho bị cáo DA mượn để chơi điện tử. Chị N không biết bị cáo DA sử dụng điện thoại của mình để thực hiện hành vi phạm tội.
. Các bị cáo pH chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố: bị cáo NVH và bị cáo DDA phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ: Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
* Xử phạt: Bị cáo NVH 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2021.
* Xử phạt: Bị cáo DDA 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2021.
- Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.
* Xử lý vật chứng:
+ Tịch thu, tiêu huỷ 01 bao niêm phong có chữ ký của giám định viên, chữ ký cán bộ và chữ ký của đối tượng DDA - NVH theo Biên bản giao nhận vật chứng số 35 ngày 16/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng (không mở được Icloud); Điện thoại đã qua sử dụng; Không kiểm tra dữ liệu bên trong và không rõ chất lượng thu giữ của NVH theo Biên bản giao nhận vật chứng số 35 ngày 16/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
+ Trả lại cho chị DBN 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đỏ (không mở được Icloud); Điện thoại đã qua sử dụng; Không kiểm tra dữ liệu bên trong và không rõ chất lượng thu giữ của DDA theo Biên bản giao nhận vật chứng số 35 ngày 16/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) thu giữ của DDA theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 04/11/2021 của Kho bạc Nhà nước Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
- Bị cáo NVH và DDA pH chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị DBN có quyền kháng cáo đối với phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Tòa án NDTP Hà Nội; - Viện kiểm sát NDTP Hà Nội; - Viện kiểm sát ND quận Đống Đa; - Công an quận Đống Đa; - Chi cục THADS quận Đống Đa; - Trại tạm giam số 1; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NBH |