vanban.org

Bản án 353/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 20/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt Dương Văn C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ 20/6/2017. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:353/2017/HSST
Ngày 20/9/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Ninh

2. Bà Nguyễn Thị Nhung

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Tiến, chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2017, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 314 /2017/HSST ngày 11 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Dƣơng Văn C, tên gọi khác: không; sinh ngày 06/4/1984; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm N, xã N, huyện P, tỉnh T;Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;Trình độ văn hóa: 9/12;Nghề nghiệp: Làm ruộng;Con ông: Dương Văn Đ, sinh năm 1940;Con bà: Trương Thị L, sinh năm 1947;Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con út trong gia đình;Vợ:Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1989 (Đã ly hôn);Có 01 con: Dương Minh H, sinh năm 2010.

Tiền án: Không

Tiền sự: 01. Ngày 13/7/2016 Công xã N, huyện P, tỉnh T xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2017 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.

( Có mặt tại phiên toà)

Người làm chứng: 1. Anh Nguyễn Đức H, sinh năm: 1984, trú tại: Tổ 20, phường T, thành phố T, tỉnh T ( Vắng mặt). 2. Anh Đặng Quốc C, sinh năm 1991, trú tại: Tổ 25, phường T, thành phố T, tỉnh T ( Vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Dương Văn C bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 20/6/2017, tổ công tác của Công an phường T, thành phố T đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 25, phường T đã phát hiện một nam thanh niên đang đi bộ có biểu hiện cất giấu ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu nam thanh niên đứng lại để kiểm tra. Nam thanh niên khai tên là Dương Văn C, sinh năm 1984, trú tại: xóm N, xã N, huyện P, tỉnh T. Kiểm tra C, tổ công tác đã phát hiện thu giữ trên tay phải C đang cầm 01 tờ tiền mệnh giá 2.000, đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam bên trong chứa chất bột màu trắng( nghi là hêrôin), C khai đó là Hêrôin. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C và thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày cân xác định chất bột màu trắng đã thu giữ của C có trọng lượng là 0,276 gam.

Căn cứ vào các tài liệu đã thu thập được hồi 17 giờ 15 phút ngày 20/6/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật đối với Dương Văn C ở xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả khám xét không phát hiện thu giữ gì liên quan đến vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 788/KL - PC54 ngày 26/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ được của Dương Văn C ngày 20/6/2017 gửi đến giám định là chất ma túy, loại Hêrôin, có trọng lượng (khối lượng) là: 0,276 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Dương Văn C khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 20/6/2017, C đi bộ từ trong Bệnh viện Gang Thép thái Nguyên ra cổng mục đích để tìm mua hêrôin để sử dụng. Khi ra đến cổng Bệnh viện, C gặp một người đàn ông không quen biết đang ngồi trên xe môtô, C không nhớ biển kiểm soát. C hỏi người đàn ông này có mua được hêrôin không, người đàn ông bảo C ngồi lên xe rồi đèo C ra khu vực bờ hồ Thiên Nga, thuộc phường T, thành phố T. Qua giao dịch C đưa cho người đàn ông 200.000 đồng để mua hêrôin, người đàn ông cầm tiền rồi đi khoảng 5 phút sau quay lại đưa cho C 01 gói Hêrôin được gói bằng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng. Sau khi mua được hêrôin C cầm ở tay phải và đi bộ tìm chỗ để sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường T, thành phố T phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Lời khai của Dương Văn C phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và kết luận giám định.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu C cùng 01 tờ tiền mệnh giá 2.000đồng đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 332 /KSĐT-MT ngày 10/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Dương Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.

Phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Dương Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14 về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH 13; Khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt:

Bị cáo Dương Văn C : Từ 24 đến 30 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41BLHS; Điều 76 BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu C.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.000đồng (Hai nghìn đồng) tiền NHNNVN theo UNC: 89/21.7.2017

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt được sớm trở về cùng gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người làm chứng, Hội đồng xét xử

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Văn C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng đã thu được, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 20/6/2017, tại khu vực tổ 25, phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên, Dương Văn C đang có hành vi tàng trữ 0,276 gam hêrôin mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường T, thành phố T phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Dương Văn C về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Điều 194 BLHS quy định như sau:

“1. Người nào….tàng trữ trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định độc quyền của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất gây nghiện. Ma túy là nguyên nhân là suy thoái về đạo đức và giống nòi. Từ ma túy đã làm nảy sinh ra nhiều loại tệ nạn khác trong xã hội, nhiều vụ án nghiêm trọng đã xảy ra làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an. Đảng và Nhà nước ta đã có những biện pháp đấu tranh rất quyết liệt và mạnh mẽ đối với loại tội phạm này, nhằm loại bỏ nó vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo là người hiểu được tác hại của ma túy đối với bản thân và kinh tế gia đình, nhưng do thiếu quyết tâm nên đã vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, có 01 tiền sự, là đối tượng nghiện ma túy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 Bộ Luật hình sự.

Căn cứ Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 của Quốc hội quy định: Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích.

Dẫn chiếu tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có mức hình phạt cao nhất là 5 năm tù, nhẹ hơn mức hình phạt cao nhất là 7 năm tù quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Vì vậy, áp dụng hình phạt theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy nên giảm cho bị cáo một mức hình phạt để bị cáo thấy rõ lượng khoan hồng của pháp luật, tích cực cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội.

Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra, xác minh tại địa phương bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không nghề nghiệp, bản thân sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS.

Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu C, đây là tang vật phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.000đồng (Hai nghìn đồng) tiền NHNNVN theo UNC: 89/21.7.2017.

Về nguồn gốc số hêrôin bị thu giữ C là nhờ một người đàn ông không quen biết đứng ở cổng Bệnh Viện Gang Thép, thành phố Thái Nguyên mua hộ nhưng C không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

1. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt Dương Văn C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ 20/6/2017.

- Áp dụng Điều 228 của Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo Dương Văn C 45 (Bốn mươi năm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu C.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.000đồng (Hai nghìn đồng) tiền NHNNVN theo UNC: 89/21.7.2017.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 346 ngày 31/7/2017 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).

3.Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Dương Văn C phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm,có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ