- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Phạm Văn E xin ly hôn bà Nguyễn Ngọc Dung"
- Tòa quyết gì? 1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Phạm Văn E và bà Nguyễn Ngọc D, tên gọi khác Ngô Ngọc D.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 352/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29 – 9 – 2023 V/v “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trường Hận
2. Ông Lê Thanh Hiện
- Thư ký phiên toà: Ông Trương Minh Chiến, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 595/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2023 về việc “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 348/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn E, sinh năm: 1970 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm 5, thị trấn SĐ, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc D, tên gọi khác: Ngô Ngọc D, sinh năm: 1971 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm 5, thị trấn SĐ, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI D VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 23/8/2023, ông Phạm Văn E trình bày quan điểm và yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Ngọc D chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 1991, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán nhưng không đăng ký kết hôn theo luật định. Trong quá trình chung sống, ông và bà D luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vả, không thể hòa hợp được với nhau. Trên thực tế ông và bà D không còn chung sống như vợ chồng từ năm 2008 đến nay.
Từ nội D trên, ông nhận thấy tình cảm của ông và bà D không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống và D trì mối quan hệ vợ, chồng được nữa nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được chấm dứt quan hệ vợ, chồng với bà D.
- Về con chung: Ông xác định giữa ông và bà D có 03 người con chung là Phạm Thúy Ph; Phạm Thúy C; Phạm Hoàng Nh. Hiện các con ông, bà đã thành niên, có cuộc sống tự lập nên không đặt ra trách nhiệm nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Ông xác định giữa ông và bà D không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Ông khai nhận giữa ông và bà D không có nợ chung và không ai nợ lại ông, bà.
* Đối với bà Nguyễn Ngọc D vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng dân sự: Về loại việc và thẩm quyền của Toà án: Tranh chấp giữa ông Phạm Văn E và bà Nguyễn Ngọc D là “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Đối với việc vắng mặt của bà Nguyễn Ngọc D: Mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến tham gia phiên toà để xét xử vụ án, thông qua thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng nhưng bà D vẫn không có ý kiến phản hồi, đồng thời cũng không có mặt tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà D theo luật định. Đối với việc đề nghị vắng mặt của ông Phạm Văn E, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Văn E theo luật định.
Về quan hệ hôn nhân: Trên thực tế, ông Phạm Văn E và bà Nguyễn Ngọc D có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 1991 đến 2008. Theo ông Phạm Văn E trình bày, giữa ông và bà Nguyễn Ngọc D không đăng ký kết hôn, đồng thời xác nhận của cơ quan có thẩm quyền thì ông Phạm Văn E và bà Nguyễn Ngọc D không có đăng ký kết hôn. Do đó, quan hệ hôn nhân của ông Phạm Văn E và bà D đã vi phạm về đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Cho nên việc kết hôn là không thỏa mãn về mặt hình thức, nay ông Phạm Văn E có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân do có nhiều mâu thuẫn, về mục đích hôn nhân không đạt. Bởi lẽ, trong thời gian chung sống, ông Phạm Văn E và bà Nguyễn Ngọc D xảy ra bất đồng quan điểm trong sinh hoạt gia đình và thường xuyên cải vã, gây bất hòa với nhau mà không bên nào có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn. Bên cạnh đó, ông Phạm Văn E xác định tình cảm vợ, chồng giữa ông và bà D không còn nên ông, bà đã tự ly thân rất nhiều năm qua.
Theo tinh thần tại điểm b khoản 3 của Nghị quyết 35 của Quốc hội quy định: Kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, nam và nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ, chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Mặt khác, căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con ... thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét mâu thuẫn thực tế của ông Phạm Văn E và bà Nguyễn Ngọc D đến mức trầm trọng, đời sống chung hiện tại cũng không còn nên mục đích hôn nhân không đạt được, đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ, chồng.
Về con chung: Xét thấy cháu Phạm Thúy Ph, Phạm Thúy C và Phạm Hoàng Nh hiện đã thành niên, có cuộc sống tự lập riêng nên không đặt ra trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
Về tài sản chung: Ông Phạm Văn E xác định giữa ông và bà Nguyễn Ngọc D không có tài sản chung nên không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Ông Phạm Văn E khai nhận giữa ông và bà Nguyễn Ngọc D không có nợ chung và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Ông Phạm Văn E là nguyên đơn nên ông phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Ông Phạm Văn E và bà Nguyễn Ngọc D được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 9, Điều 14, Điều 15 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Phạm Văn E và bà Nguyễn Ngọc D, tên gọi khác Ngô Ngọc D.
2 - Về con chung: Đã thành niên nên không xem xét.
3 - Về tài sản chung: Không có.
4 - Về nợ chung: Không có.
5 - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Ông Phạm Văn E phải chịu 300.000đ, ngày 23 tháng 8 năm 2023, ông Phạm Văn E đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên lai số: 7314 được đối trừ chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6 - Về quyền kháng cáo: Ông Phạm Văn E và bà Nguyễn Ngọc D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện T; - CCTHADS huyện T; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: Hồ sơ, Văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Minh Hải |