- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Bùi Văn Ph-Bùi Văn Tr"
- Tòa quyết gì? Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật tr…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 350/2023/DS-PT Ngày: 24/3/2023 V/v: Tranh ch p quyền sử dụng đ t |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Trần Thị Thủy
Các Thẩm phán:
1/ Ông Lê Ngọc Tường
2/ Bà Châu Thị Điệp
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên - Thư ký
Tòa án nhân dân Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Trần
Đoàn Bích Trâm - Kiểm Sát viên.
Trong các ngày 21 và 24 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành
phố H đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2023/TLPT-DS ngày 12
tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh ch p quyền sử dụng đ t”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 3507/2022/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022
của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 700/2023/QĐ-PT ngày
20 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Bùi Văn Ph, sinh năm 1946. Địa chỉ: Số 27, đường T,
Phường M, Quận S, Thành phố H. Địa chỉ liên hệ: Số 252, đường C, phường P, thành
phố T, Thành phố H.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn L, sinh
năm 1950, là Luật sư Văn phòng Luật sư L – Đoàn luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Số
252, đường C, phường P, thành phố T, Thành phố H.
Bị đơn: Ông Bùi Văn Tr, sinh năm 1941. Địa chỉ: Số 296B, khu phố 2,
phường C, thành phố T, Thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
- Ông Bùi Văn Th, sinh năm: 1980. Địa chỉ: Số 108, đường số 5, phường C,
thành phố T, Thành phố H (theo gi y ủy quyền công chứng số 004625, quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 29/3/2021 tại Văn phòng Công chứng Lê Văn D, Thành phố H) .
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số 18, đường số 54, khu dân cư
T, phường P, Quận B, Thành phố H (theo gi y ủy quyền công chứng số 011714, quyển số 02/2021.TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 29/10/2021 tại Văn phòng Công chứng Lê Văn D, Thành phố H).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Tôn Nữ Thị H, sinh năm 1956.
2/ Bà Bùi Thị Thu Th, sinh năm 1975.
3/ Ông Lê Đức H, sinh năm 1975.
4/ Ông Bùi Văn Th, sinh năm 1980.
5/ Bà Lê Thanh Th2, sinh năm 1982.
6/ Chị Lê Thị Tuyết Tr, sinh năm 2000.
7/ Chị Bùi Lê Anh Th3, sinh năm 2003.
8/ Anh Lê T n Tr, sinh năm 2004.
9/ Trẻ Bùi Lê Phương U, sinh năm 2005.
10/ Trẻ Bùi Lê Anh M, sinh năm 2008.
11/ Trẻ Lê Thị Thùy Tr, sinh năm 2011.
Người đại diện hợp pháp của trẻ Bùi Lê Phương U và trẻ Bùi Lê Anh M:
Ông Bùi Văn Th và bà Lê Thanh Th2.
Người đại diện hợp pháp của trẻ Lê Thị Thùy Tr: Ông Lê Đức H và bà Bùi
Thị Thu Th.
Cùng địa chỉ: Số 108, đường số 5, phường C, thành phố T, Thành phố H.
(Ông Bùi Văn Ph, ông Lê Văn L, ông Bùi Văn Tr, ông Bùi Văn Th, ông
Nguyễn Văn L có mặt; bà Tôn Nữ Thị H, bà Bùi Thị Thu Th, ông Lê Đức H, bà Lê Thanh Th2, chị Lê Thị Tuyết Tr, Chị Bùi Lê Anh Th3, anh Lê T n Tr có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/5/2020, bản tự khai, biên bản làm việc, biên
bản hòa giải nguyên đơn ông Bùi Văn Ph trình bày: Ông Bùi Văn Ph là chủ sử dụng phần đ t có diện tích 7.047m2, trong đó 4.072m2 thuộc thửa số 64, tờ bản đồ số 2 được Ủy ban nhân dân Quận H c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 00019QSDĐ/1, diện tích 2.975m2 còn lại là đ t trũng sâu chưa được c p gi y
chứng nhận quyền sử dụng, đ t có vị trí liền kề đ t của ông Bùi Văn Tr (chưa được
c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t).
Về nguồn gốc: Diện tích 2.975m2 thuộc một phần diện tích 25.760m2, thuộc
thửa 89, tờ bản đồ số 6, xã T, huyện T (nay là thành phố T), Thành phố H do cha
ông là ông Bùi Văn H đứng tên từ năm 1961 (kèm trích lục địa bộ cũ). Sau giải
phóng ông H tiếp tục sử dụng diện tích này. Năm 1977, diện tích đ t trên được đưa
vào làm ăn tập thể. Đến năm 1984, đưa vào Hợp tác xã nông nghiệp T. Sau khi ông
H chết, toàn bộ diện tích 25.670m2 được anh em ông tiếp tục sử dụng.
Năm 1991, anh em ông tập hợp lại để lập bảng phân chia lại phần diện tích
25.760m2 của ông H để lại và nộp cho xã T. Xã T căn cứ vào bảng phân chia này
để c p sổ đỏ cho mỗi cá nhân. Trước khi c p sổ đỏ, Ủy ban nhân dân xã T đã mời
anh em ông đến để thông báo chỉ c p sổ đỏ cho phần đ t c y lúa còn phần đ t trũng
sâu ao ngập nhà nước chưa có số thửa nên không được c p.
Theo đó, ông Bùi Văn Tr được phân chia 6.000m2 nhưng chỉ c p sổ đỏ 3.000
m2 còn 3.000m2 nằm ở vùng trũng sâu.
Bà Ng được chia 3.000m2 nhưng do nằm ở vùng trũng sâu nên chưa được
c p sổ đỏ.
Ông Bùi Văn H1 được chia 2.000m2 nhưng do nằm ở vùng trũng sâu nên
chưa được c p sổ đỏ.
Ông Bùi Văn B được chia 8.000m2, đã được c p sổ đỏ 7.636m2
Ông Ph được chia 7.000m2 (thực tế là 7.047m2) nhưng chỉ được c p sổ đỏ
cho 4.072m2 còn phần 2.975m2 nằm trong vùng trũng sâu.
Vào năm 1999, anh em ông có tiến hành đăng ký kê khai diện tích đ t trên tại
Ủy ban nhân dân phường C trên cơ sở gi y thỏa thuận mà các anh em cùng ký
trong đó có ông Tr. Ông Ph đã trực tiếp sử dụng toàn bộ diện tích trên và canh tác
ổn định cho đến nay.
Tuy nhiên, đến năm 2003 ông Tr lập hồ sơ xin c p gi y chứng nhận quyền sử
dụng đ t nông nghiệp diện tích 8.010m2 thuộc thửa không số, tờ bản đồ số 2 (theo
tài liệu chỉnh lý năm 1990) bao gồm cả diện tích 2.975m2 chưa được c p sổ đỏ của
ông. Hành vi này của ông Tr đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông
Ph vì phần đ t này có nguồn gốc do ông bà để lại, bản thân ông Ph là người trực
tiếp canh tác, sử dụng ổn định cho đến nay và sự việc khiếu nại cũng đã có các
Quyết định của Ủy ban nhân dân quận giải quyết và do không đúng thẩm quyền
nên đã bị hủy bởi bản án của Tòa án nhân dân Thành phố H.
Nay ông Ph yêu cầu Tòa án tuyên công nhận quyền sử dụng đ t có diện tích
2.975m2 thuộc thửa 89, tờ bản đồ số 6, xã T, huyện T (nay thuộc thửa 2953, tờ bản
đồ số 2, phường C) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Bùi Văn Ph.
Bị đơn ông Bùi Văn Tr có ông Bùi Văn Th là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Về nguồn gốc phần đ t tranh ch p có diện tích 2.975m2 như sau:
Cha ông Tr là ông Bùi Văn H đứng bộ phần đ t có diện tích 25.760m2 tại
cánh đồng Q thuộc p Ô, xã T, phường C, Quận H cũ (nay là Thành phố T). Vào năm 1977, phần đ t này của ông H được đưa vào tập đoàn và ông là người được ông H giao trực tiếp canh tác, sản xu t trên phần đ t này. Năm 1979 tập đoàn giải thể, ông Tr vẫn tiếp tục canh tác trực tiếp tại vị trí đ t trên. Đến năm 1985, toàn dân vào hợp tác xã và gia đình ông là xã viên HTX N. Theo tinh thần khoán Chỉ thị 100 của Chính phủ, Hợp tác xã đã giao khoán trực tiếp theo đầu lao động. Ban chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp 2 đã điều tiết và giao khoán cho từng hộ xã viên, tuy nhiên đ t nhà không đủ chia theo đầu lao động (vì năm 1978 thành lập khu quân sự của bộ đội tên lửa nên có l y một phần đ t khoảng chừng chiều rộng 7,2m2, chiều dài 40m2) của ông H để mở rộng đường nay là đường số 5. Khi hợp tác xã chia đ t cho người dân thì hộ của ông Tr phải được nhận đầu tiên vì trực canh trực cư tại chỗ nhưng các anh em của ông là các ông bà Bùi Văn Ph, Bùi Văn B và Bùi Thị Tuyết Ng không cho ông nhận trước vì đ t của ông H chỉ có một đám gò trồng được lúa hiện nằm ngay mặt tiền đường số 5 với diện tích là 1 ha, còn lại bao nhiêu là ao, rạch, biền (do tên lửa l y đ t ruộng đắp lên làm những ụ đ t của quốc phòng) nên ông Bùi Văn Ph, ông Bùi Văn B và bà Bùi Thị Tuyết Ng sợ ông Tr được nhận hết phần đ t gò tốt nên đã phản ứng quyết liệt với ban đo dạc của hợp tác xã.
Sau khi ông Ph và ông B nhận hết phần đ t gò, khi đến bà Bùi Thị Tuyết Ng
thì đ t không còn nên Hợp tác xã đã điều tiết để cho Bà Ng nhận 2.000m2 trên phần đ t của bà S, còn lại ông Bùi Văn H1 được nhận 2.000m2 trên phần đ t của bà Nguyễn Thị H (còn gọi là T), ông Tr là người nhận cuối cùng. Hợp tác xã có hỏi gia đình ông muốn nhận phần đ t nhà là biền đạp cũ hay phần đ t khác. Nếu nhận phần biền đạp cũ nhà nước sẽ ưu tiên cho ông chỉ đo những phần có thể trồng lúa được còn phần trũng, ao, biền thì Hợp tác xã giao cho ông quản lý.
Năm 1989, ông Bùi Văn B bán toàn bộ phần gò đ t Hợp tác xã chia. Năm
1993, ông Bùi Văn Ph tiếp tục chuyển nhượng toàn bộ phần đ t được chia. Lúc đó do gia đình ông không đăng ký được gi y chứng nhận nên không bán được. Ông Bùi Văn Ph chưa bao giờ canh tác trên phần đ t tranh ch p.
Năm 2001, khi Luật Đ t đai cho phép những hộ dân có ao hồ nằm trong đ t
nông nghiệp thì được kiểm định, đăng ký, gia đình ông đã làm đơn đăng ký kiểm định và được cơ quan nhà nước chứng nhận. Gia đình ông đã có quá trình canh tác những phần ao hồ, rạch, trũng biền bồi đắp trong nhiều năm liền, vừa canh tác vừa cải tạo tu bổ mới có được phần đ t như ngày hôm nay. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn Ph yêu cầu Tòa án tuyên công nhận quyền sử dụng đ t có diện tích 2.975m2 là thuộc sở hữu của ông Ph, ông không đồng ý do từ trước đến nay ông B, ông Ph và Bà Ng không trực tiếp canh tác trên đ t.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan thống nh t theo ý kiến của bị đơn ông Bùi Văn Tr và có đơn xin vắng mặt.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 3507/2022/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022
của Tòa án nhân dân thành phố T đã tuyên xử:
Không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn Ph về việc
công nhận quyền sử dụng đ t đối với phần đ t diện tích 2.975m2 thuộc thửa đ t số
89, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã T, huyện T (nay thuộc thửa 2953, tờ bản đồ số 2,
phường C, thành phố T, Thành phố H) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Bùi
Văn Ph.
Ngoài ra, Tòa án c p sơ thẩm còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo
của các đương sự theo luật định.
Ngày 21/9/2022 ông Bùi Văn Ph có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ
thẩm số: 3507/2022/DSST ngày 15/9/2022 vì lý do Tòa c p sơ thẩm đã không xem
xét đánh giá khách quan toàn bộ tình tiết và các tài liệu, chứng cứ vụ án. Việc c p
sơ thẩm không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của ông là không có căn cứ nên ông
kháng cáo đề nghị c p phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng ch p
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông, công nhận cho ông được quyền sử dụng
phần đ t có diện tích 2.975m2 thuộc thửa đ t số 89, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã T,
huyện T (nay thuộc thửa 2953, tờ bản đồ số 2, phường C, thành phố T, Thành phố
H).
Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Bùi Văn Ph vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo. Bị đơn ông Bùi Văn Tr đề nghị Tòa không ch p nhận yêu cầu kháng cáo của
ông Ph đề nghị Tòa giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án c p phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật
tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước
khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ
tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương sự trong vụ án đã ch p
hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Nguyên đơn ông Bùi Văn Ph kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm
yêu cầu c p phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận cho ông Bùi Văn
Ph được quyền sử dụng đ t có diện tích 2.975m2 thuộc thửa số 2953, tờ bản đồ số
02, phường C, Quận H (nay là thành phố T) đang bị ông Tr l n chiếm và sử dụng
trái phép với lý do đây là phần di sản thừa kế đã chuyển thành tài sản thuộc quyền
sử dụng hợp pháp của cá nhân theo Án lệ số 24 ngày 17/10/2018.
Xét nguồn gốc đ t tranh ch p: Trước năm 1975, ông Bùi Văn H (cha ruột
ông Bùi Văn B; Bùi Tr) đứng bộ phần diện tích 25.760m2, thuộc thửa 89, tờ bản đồ
số 6, xã T (nay thuộc phòng C), huyện T (nay là thành phố T). Năm 1977 toàn bộ
diện tích nêu trên đưa vào làm ăn tập thể, năm 1984 vào Hợp tác xã Nông nghiệp
II, xã T.
Sau khi ông H chết (năm 1984), phần diện tích đ t nêu trên do các con của
ông H tiếp tục sử dụng. Năm 1990, Hợp tác xã nông nghiệp II, xã T điều chỉnh đ t đai theo định mức bình quân nhân khẩu cho các hộ:
Ông B, đã được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với phần diện
tích 7.636 m2, ông Ph, đã được c p 4.072m2, ông Tr đã được c p 2.979m2.
Tổng diện tích đ t 03 hộ nêu trên được c p là 14.687m2. Phần diện tích còn lại
chưa có số thửa do ông Bùi Văn Tr trực tiếp quản lý sử dụng để nuôi tôm, cá và trồng dừa nước dưới sự quản lý của Hợp tác xã (không có gi y tờ). Sau khi Hợp tác xã giải thể (năm 1998) ông Tr tiếp tục quản lý sử dụng phần diện tích nêu trên.
Năm 2003, ông Bùi Văn Tr lập hồ sơ xin c p gi y chứng nhận quyền sử
dụng đ t phần đ t nông nghiệp có diện tích 8.010m2 (trong đó, bao gồm phần diện tích 2975m2) thuộc thửa đ t không số, tờ bản đồ số 02 (TL chỉnh lý ảnh năm 1990). Ủy ban nhân dân phường có Công văn số: 42/UB về kiểm định diện tích c p số đối với phần diện tích 8.010m2 thuộc thửa đ t không số, tờ bản đồ số 02 (TL chỉnh lý ảnh năm 1990) trong đó có nội dung: “về hình thể thửa đ t: gồm 02 thửa khép kín nhưng trong quá trình lập bản đồ địa chính, do đánh số thửa bị sót nên trong thời gian qua ông Tr vẫn canh tác mà chưa được c p gi y chứng nhận”. Sau đó được Ủy ban nhân dân Quận H và Sở Địa chính nhà đ t Thành phố H kiểm định vị trí và diện tích phần diện tích 8.010m2 thuộc thửa đ t không số, tờ bản đồ số 02. Ngày 30/01/2008, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận đã c p số thửa chính thức cho phần diện tích 8.010m2 nêu trên là thửa 2952 và 2953 tờ bản đồ số 02 (TL chỉnh lý ảnh 1990) cho ông Bùi Văn Tr theo bản vẽ Công ty TNHH Đo đạc Địa chính MIPHA lập ngày 14/03/2023 và ông Tr tiếp tục quản lý sử dụng cho đến nay đã được cải đắp bờ, tạo thành ao cá. Căn cứ Sổ mục kê ruộng đ t thì ông Bùi Văn Tr và gia đình không đăng ký kê khai đối với phần đ t tranh ch p. Do đó, căn cứ khoản 5 Điều 26 Luật Đ t đai 2013 quy định:
“Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của
Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước”
Theo khoản 1 Điều 4 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm
2004 của Chính phủ quy định: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất và không xem xét giải quyết khiếu nại về việc đòi lại đất mà Nhà nước đã giao cho người khác sử dụng theo các chính sách ruộng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 trong các trường hợp sau: Đất đã góp vào hợp tác xã nông nghiệp theo quy định của Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao.”
Căn cứ quy định tại tiểu mục 2.4 mục 2 phần II Nghị quyết số: 02/2004/NQ-
HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao trước ngày 10/08/2004 nêu rõ “2.4. Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trong trường hợp đất đã được đưa vào tập đoàn sản xuất, hợp tác xã mà sau đó tập đoàn sản xuất, hợp tác xã đã bị giải thể. Đối với đất đã được cá nhân, tổ chức đưa vào tập đoàn sản xuất,
hợp tác xã để sử dụng chung trong quá trình thực hiện chính sách hợp tác hóa
nông nghiệp mà sau khi tập đoàn sản xuất, hợp tác xã bị giải thể thì căn cứ vào
quy định tại Điều 1 của Luật Đất đai năm 1987, khoản 2 Điều 2 của Luật Đất đai
1993 và khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai 2003 cần phân biệt như sau:
a/ Chủ cũ hoặc người thừa kế của người đó không có quyền đòi lại quyền sử
dụng đất nếu đất đó đã được giao cho người khác sử dụng…”
Từ các chứng cứ trên cho th y từ sau năm 1975 đến nay, ông Ph không có
quá trình quản lý, sử dụng, canh tác đối với phần đ t tranh ch p. Xét chứng cứ ông
Ph đi kiện là Đơn xin đăng ký ruộng đ t có phần ghi chú xác định rõ “Diện tích
thật sự canh tác của ông Ph là 4.000m2” nên có cơ sở cho th y ông Ph chỉ thật sự
canh tác khoảng 4.000m2 và ông xác định đã được c p chủ quyền này không là
phần đ t đang tranh ch p. Xét, việc ông Ph đề nghị áp dụng theo Án lệ 24 ngày
17/10/2018 với lý do đây là phần di sản thừa kế đã chuyển thành tài sản thuộc
quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân là không có căn cứ, nên đề nghị Hội đồng xét
xử phúc thẩm không ch p nhận kháng cáo của ông Bùi Văn Ph. Giữ nguyên Bản
án dân sự sơ thẩm số: 3507/2022/DS-ST ngày 15/09/2022 của Tòa án nhân dân
thành phố T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm
sát nhân dân Thành phố H phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử
phúc thẩm nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Văn Ph còn trong hạn theo quy
định tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên kháng cáo là hợp lệ và
được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về sự vắng mặt của đương sự: Xét th y, tại phiên tòa nguyên đơn ông
Bùi Văn Ph, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Lê Văn
L, bị đơn ông Bùi Văn Tr, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Bùi Văn
Th và ông Nguyễn Văn L có mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà
Tôn Nữ Thị H, bà Bùi Thị Thu Th, ông Lê Đức H, bà Lê Thanh Th2, chị Lê Thị
Tuyết Tr, Chị Bùi Lê Anh Th3, anh Lê T n Tr có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản
1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các
đương sự nêu trên.
. Về nội dung:
Về yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn,
Xét th y, tại phiên tòa phúc thẩm ông Ph kháng cáo bổ sung yêu cầu sửa bản
án sơ thẩm theo hướng công nhận diện tích 2.975m2 thuộc thửa đ t số 89, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã T, huyện T (nay thuộc thửa 2953, tờ bản đồ số 2, phường C, thành phố T, Thành phố H) thuộc quyền sử dụng của ông Ph do ông Tr l n chiếm.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng đ t có
nguồn gốc của ông H để lại nên sau khi hợp tác xã giải thể anh em ông Ph, ông Tr đã có sự phân chia đ t thể hiện tại phiếu đăng ký kê khai. Tòa c p sơ thẩm áp dụng điều luật không chính xác và không xem xét đầy đủ toàn diện ý nghĩa nội hàm của các văn bản tại Công văn số: 15/UBND phường C, Quận H, Công văn số: 431/UBND ngày 03/12/2020 của Ủy ban nhân dân phường C gửi Ủy ban nhân dân Quận H và Công Văn số: 4913/ĐCNĐ-KHTH của Sở Địa chính nhà đ t Thành phố gửi Ủy ban nhân dân Quận H và Phòng Quản lý đô thị Quận H. Luật sư cho rằng ông Ph đòi đ t bị ông Tr l n chiếm chứ không phải đòi đ t đã được nhà nước giao đ t cho ông Tr vì đ t đã được chia thừa kế nên đề nghị áp dụng Án lệ số 24 trong trường hợp này ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét th y:
Về nguồn gốc phần diện tích 2.975m2 đ t mà nguyên đơn tranh ch p với bị
đơn, trước đây có nguồn gốc do ông Bùi Văn H (là cha của ông Ph, ông B, ông Tr) đứng bộ từ năm 1961 với diện tích 25.760m2. Năm 1977, toàn bộ phần diện tích đ t trên được đưa vào làm ăn tập thể. Năm 1984 thì đưa vào Hợp tác xã Nông nghiệp II, xã T. Phần diện tích 2.975m2 ông Ph tranh ch p này nằm trong phần diện tích 8.010m2 như đã nêu ở trên. Sau khi ông H chết phần diện tích đ t nêu trên vẫn do các con ông H sử dụng và đã được chia theo định mức nhân khẩu theo từng hộ, cụ thể hộ ông Ph được c p 4.072m2, hộ ông B được c p 7.636m2, hộ ông Tr được c p 2.979m2. Như vậy, cho th y phần diện tích đ t mà 03 hộ được c p gi y chứng nhận là 14.687m2 (ông Ph và ông B đã chuyển nhượng toàn bộ phần diện tích đ t đã được c p gi y chứng nhận cho người khác từ 1999). Phần đ t còn lại là 8.010m2 chưa có số thửa, tờ Bản đồ số 02 do ông Tr trực tiếp sử dụng nuôi tôm, cá và trồng dừa vẫn dưới sự quản lý của Hợp tác xã và nộp thuế cho Hợp tác xã Nông nghiệp II thể hiện qua các biên lai thu thuế từ 1992 trở đi cho đến khi Hợp tác xã Nông nghiệp II giải thể năm 1998, để đảm bảo quyền sử dụng đ t của mình ông Tr đã cho lập Bản đồ hiện trạng vị trí để bổ túc hồ sơ xin c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t do Công ty TNHH Đo đạc địa chính MIPHA lập ngày 14/3/2003, làm đơn yêu cầu xin c p số thửa với phần diện tích đ t nêu trên. Trên cơ sở này, ngày 18/3/2003 Ủy ban nhân dân phường C, Quận H đã có Công văn số: 42/UB và Công văn số: 64/UB ngày 10/4/2003 gửi Ủy ban nhân dân Quận H đề nghị kiểm định sót thửa của ông Bùi Văn Tr nên ngày 14/4/2003 Ủy ban nhân dân Quận H đã có Công văn số: 796/CV-UB-QLĐT về việc kiểm định vị trí và diện tích đ t gửi Sở Địa chính - Nhà đ t Thành phố H. Ngày 22/7/2003 Sở Địa chính đã có Công văn số: 4913/ĐCNĐ-KHTH gửi Ủy ban nhân dân Quận H. Có nội dung đề nghị Ủy ban
nhân dân Quận H và Phòng Quản lý đô thị Quận H cho số thửa chính thức và xem
xét đền bù cho chủ sử dụng theo quy định.
Việc Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận H c p số thửa 2952 có diện
tích 5.045m2 và thửa 2953 có diện tích 2.975m2 trên cơ sở đơn yêu cầu c p số thửa
của ông Bùi Văn Tr là người có quá trình trực tiếp quản lý sử dụng đ t chứ không
phải là c p theo yêu cầu của ông Bùi Văn Ph hoặc do Ủy ban nhân dân Quận H chủ
động c p số thửa. Xét th y, việc ông Ph kháng cáo bổ sung yêu cầu công nhận cho
ông Ph được quyền sử dụng đ t có diện tích 2.975m2 thuộc thửa số 2953, tờ bản đồ
số 02, phường C, Quận H (nay là thành phố T) đang bị ông Tr l n chiếm và sử
dụng trái phép với lý do đây là phần di sản thừa kế đã chuyển thành tài sản thuộc
quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân nhưng ông Ph không có chứng cứ gì chứng
minh ông Ph là người có quá trình trực tiếp quản lý sử dụng đ t từ trước đến nay.
Việc này còn được thể hiện tại trong Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ do Tòa án
nhân dân Thành phố T lập ngày 08/12/2021 thì phần đ t này đã được gia đình ông
Tr cải tạo thành ao nuôi cá đắp bờ và hiện nay gia đình ông Tr đang sinh sống và
kinh doanh trên phần đ t này. Tại phiên tòa, ông Ph cũng xác nhận do đ t không có
số thửa và do là đ t trũng sâu không thể trồng lúa nên ông không canh tác. Ông Ph
chỉ thực sự canh tác đối với phần đ t có diện tích 4.000m2 đã được c p gi y chứng
nhận quyền sử dụng đ t như đại diện viện kiểm sát đã phân tích nêu trên.
Xét, việc Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng
cụm từ “chủ sử dụng” được nêu trong Công văn số 4913 của Sở Địa chính - Nhà
đ t chính là ông Bùi Văn Ph là không đúng. Đây chỉ là sự ngộ nhận chủ quan từ
phía Luật sư và nguyên đơn vì như đã phân tích nêu trên thì việc c p số thửa này
hoàn toàn dựa trên đơn yêu cầu của ông Tr, việc này được thể hiện r t rõ tại Công
văn số: 30/UB ngày 24/02/2003 do Ủy ban nhân dân phường C, Quận H gửi ông
Tr, trên cơ sở này ông Tr đã tiến hành cho đo đạc phần đ t thừa còn lại để làm hồ
sơ xin c p số thửa và xin c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t.
Xét th y, tại mục [2.2] trong phần nhận định của Bản án dân sự sơ thẩm số:
3507/2022/DS-ST ngày 15/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố T đã căn cứ vào
các Công văn số: 334/UBND ngày 16/8/2022 của Ủy ban nhân dân phường C trả
lời Công văn xác minh nguồn gốc quá trình sử dụng đ t của Tòa án nhân dân Quận
H và Công văn số: 15/UBND ngày 07/02/2012 về báo cáo nguồn gốc pháp lý và
quá trình sử dụng đ t gửi cho Ủy ban nhân dân Quận H xác định nguồn gốc và quá
trình sử dụng đ t như đã nêu trên để từ đó Tòa án c p sơ thẩm không ch p nhận
yêu cầu khởi kiện của ông Ph là có căn cứ đúng pháp luật, vì căn cứ hướng dẫn tại
tiểu mục 2.4 mục 2 phần II Nghị quyết số: 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 10/8/2004 hướng dẫn giải quyết tranh ch p
quyền sử dụng đ t trong trường hợp đ t đã được đưa vào tập đoàn sản xu t, hợp tác
xã mà sau đó tập đoàn sản xu t, hợp tác xã đã bị giải thể. Căn cứ Khoản 1 Điều 4
Nghị định số: 81/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định như đại
diện Viện kiểm sát đã nêu ở trên có đủ cơ sở để xác định ông Tr có quá trình sử dụng đ t ổn định liên tục sau khi ông H đưa đ t vào hợp tác xã ông Tr đã canh tác sử dụng phần đ t này cho đến khi ông H chết và sau khi Hợp tác xã giải thể ông Tr vẫn tiếp tục quản lý sử dụng cho đến hiện nay.
Từ những căn cứ và phân tích nêu trên, xét th y đề nghị của Viện kiểm sát
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm. Do đó, không ch p nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Văn Ph. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do ông Bùi Văn Ph là người cao tuổi nên theo
quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi, ông Bùi Văn Ph được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật Người cao tuổi;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1/ Không ch p nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Văn Ph.
2/ Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 3507/2022/DS-ST ngày 15 tháng 9
năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố T, Thành phố H.
2.1/ Không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn Ph về
việc công nhận quyền sử dụng đ t đối với phần diện tích 2.975m2 thuộc thửa 89, tờ bản đồ số 6, xã T, huyện T (nay thuộc thửa 2953, tờ bản đồ số 2, phường C, Thành phố T, Thành phố H) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Bùi Văn Ph.
Các bên thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2.2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn thuộc trường hợp miễn nộp án
phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
3/ Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Bùi Văn Ph được miễn án phí
án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND C p cao tại TP. H; - VKSND C p cao tại TP. H; - VKSND TP. H; - TAND thành phố T; - Chi cục thành phố T; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thủy |