- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 350/2017/HSST Ngày 19/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quảng Thái
2. Bà Trần Thanh Vân
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Huyền, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 336/2017/HSST ngày 24 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Phạm Văn Q, tên gọi khác: không; sinh ngày 02 tháng 5 năm 1984; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 14, phường T, thành phố T, tỉnh T;Quốc tịch:Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Phạm Văn H (đã chết);Con bà: Trịnh Thị N, sinh năm 1952;Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba;Vợ, con: Chưa có;Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2017 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
( Có mặt tại phiên toà)
Người làm chứng:
1. Ông Hoàng Xuân H, sinh năm: 1959
Trú tại: Tổ 14, phường T, Thành phố T, tỉnh T.
( Vắng mặt tại phiên tòa)
2. Ông Trần Thanh H1, sinh năm: 1965,
Trú tại: Tổ 14, phường T, Thành phố T, tỉnh T.
( Vắng mặt tại phiên tòa)
NHẬN THẤY
Bị cáo Phạm Văn Q bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 10 giờ 45 phút ngày 02/6/2017, tổ công tác của Công an phường T, thành phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 14, phường T, thành phố Thái Nguyên thì phát hiện 01 nam thanh niên đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiếp cận yêu cầu kiểm tra. Khi tiến hành kiểm tra, nam thanh niên khai nhận tên là Phạm Văn Q (Sinh năm: 1984; Trú quán: Tổ 14, phường T, thành phố T, tỉnh T) và đang cất giấu Hêrôin trong lòng bàn tay trái. Tổ công tác tiến hành kiểm tra đã phát hiện 01 gói giấy nilon màu xanh bên trong có 01 lớp giấy bạc màu vàng, bên trong lớp giấy bạc màu vàng có chứa chất bột màu trắng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Q, thu giữ, niêm phong vật chứng nêu trên theo đúng quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cân số chất chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Văn Q xác định trọng lượng là 0,234 gam.
Tại Kết luận giám định số 716/KL- PC54 ngày 08/6/2017 của Phòng kỹ thuâ ̣t hinh sự Công an tinh Thả
́i Nguyên kết luâ ̣n : Chất bô ̣t màu trắng thu giữ
̀ của Phạm Văn Q là chất ma túy , loại Hêrôin, trọng lượng (khối lượng): 0,234 gam.
Hồi 9 giờ 00 phút ngày 03/6/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành khám xét chỗ ở của Phạm Văn Q ở tổ 14, phường T, thành phố Thái Nguyên. Kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Tại Cơ quan điều tra Phạm Văn Q khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/6/2017, Q đi bộ một mình từ nhà Q thuộc tổ 14, phường T, thành phố T đến nhà H (có bố tên T, mẹ tên Kh nên thường gọi là H) là hàng xóm nhà Q, cách nhà Q khoảng 30m để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến nhà H, Q gọi H ra cổng rồi đưa 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) cho H để mua ma túy. H nhận tiền rồi đi vào trong nhà một lúc sau quay ra đưa cho Q 01 gói giấy nilon màu xanh bên trong có chứa Hêrôin. Sau đó, Q cầm gói Hêrôin trong lòng bàn tay trái đi về nhà để sử dụng thì bị bị tổ công tác của Công an phường T phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai nhận tội của Phạm Văn Q phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định.
Vật chứng của vụ án gåm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu Q1.Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 355/KSĐT-MT ngày 24/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phạm Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.
Phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14 về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH 13; Khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt:
Bị cáo Phạm Văn Q: Từ 24 đến 30 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41BLHS; Điều 76 BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu Q1.
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt được sớm trở về cùng gia đình.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người làm chứng, Hội đồng xét xử
XÉT THẤY
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Văn Q thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện.Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng đã thu được, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Hồi 10 giờ 45 phút ngày 02/06/2017, tại khu vực tổ 14, phường T, thành phố T, Phạm Văn Q đang có hành vi tàng trữ 0,234 gam Hêrôin mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường T, thành phố T phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Phạm Văn Q về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Điều 194 BLHS quy định như sau:
“1. Người nào….tàng trữ trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội.Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là đối tượng nghiện ma túy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 Bộ Luật hình sự.
Căn cứ Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 của Quốc hội quy định: Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích.
Dẫn chiếu tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có mức hình phạt cao nhất là 5 năm tù, nhẹ hơn mức hình phạt cao nhất là 7 năm tù quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Vì vậy, áp dụng hình phạt theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy nên giảm cho bị cáo một mức hình phạt để bị cáo thấy rõ lượng khoan hồng của pháp luật, tích cực cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội.
Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra, xác minh tại địa phương bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không nghề nghiệp, bản thân sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu Q1 xét đây là tang vật phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
Trong vụ án này, theo Phạm Văn Q khai: Q mua Hêrôin của một người đàn ông tên Hậu. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh được nhân thân đối tượng là Trần Thanh Hậu, sinh năm 1965, trú tại: tổ 14, phường T, thành phố Thái Nguyên. Quá trình điều tra chưa đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của Trần Thanh Hậu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên sẽ tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
1. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo: Phạm Văn Q 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ 02/6/2017.
Áp dụng Điều 228 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Phạm Văn Q 45 (Bốn mươi năm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu Q1 (Không kiểm tra bên trong).
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 367 ngày 24/8/2017 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
3.Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Văn Q phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm,có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TPTN; - Công an TPTN; -TAND,VKSND tỉnh TN; - Chi cục THADS TPTN; - THA phạt tù; - Người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp tỉnh TN; - UBNDP. T TPTN, tỉnh TN; - Lưu:Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Trần Thị Minh Hải |